Hiển thị các bài đăng có nhãn Camel. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Camel. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 2 tháng 10, 2011

8. CÁT MINH VÀ TINH THẦN CÁT MINH


8. CÁT MINH VÀ TINH THẦN CÁT MINH


Hương Vĩnh
(tiếp theo) 
Chúng ta đã đến trang cuối của tập sách ”Cát-Minh – chân trời 2000”. Tập sách thật vắn tắt... được viết ra chỉ đơn giản nhằm giúp bạn nếm thử và quen dần với nguồn mạch. Nếu bạn muốn, bạn có thể lợi dụng để đi xa hơn... 
Nếu bạn muốn tìm hiểu linh đạo Cát-Minh sâu sắc hơn hoặc muốn nhận định về ơn gọi của bạn, bạn có thể liên lạc với các đan viện Cát-Minh Việt-Nam hay ngoại quốc, ở trong nước hay hải ngoại. 
Ngoài các đan viện Cát-Minh nam và nữ, cũng còn có nhiều hội dòng sống giao tiếp với thế gian theo tinh thần Cát-Minh (giáo dục, bệnh viện, truyền giáo...). Tại Việt nam, hiện đã có các chị em "Cát-Minh Tông Đồ Thánh Giuse". 
Tại các nước, còn có những cộng đoàn phổ thông khác như:
- Cát-Minh Tông Đồ Đức Bà Bê-lem.
- Nữ Cát-Minh Emmanuel. 
Cũng còn một hội dòng giữa đời, trong đó các giáo dân tập họp thành huynh đoàn sống giữa thế gian theo linh đạo Cát-Minh. Ngoài ra còn có một tu hội đời quan trọng là tu hội “Đức Bà Nguồn Sống”.  
Sau hết, linh đạo Cát-Minh là chung cho tất cả mọi người, vì gợi hứng cho một số đông tín hữu, các nhóm cầu nguyện, các cộng đoàn. 
  
CHÚA BIẾT CON YẾU ĐUỐI              
              Michel Quoist 
Lạy Chúa, Chúa biết con yếu đuối,
nên mỗi lần con gặp khó khăn
con đi tìm một sự “hiện diện thân tình”
để nâng đỡ con.

Con cần nghe một câu nói,
cần một bàn tay để siết chặt,
cần một gương mặt để ôm hôn.

Nhưng giờ đây
con hiểu sự hiện diện qua hình hài
chưa hẳn là một sự hiện diện đích thực.
Hai người có thể nhìn nhau, chạm nhau,
và thậm chí ôm nhau vào lòng,
nhưng vẫn còn xa nhau, vô cùng cách biệt,
nếu từ thâm sâu,
không có tình yêu nối kết họ với nhau.

Biết bao cái bắt tay mà chỉ là đóng kịch!
Biết bao đôi vợ chồng, tháng tháng ngày ngày
cùng nằm bên nhau trong thói quen,
mà vẫn là hai nỗi cô đơn,
mỗi người ở một bên của đôi bờ hun hút.

Nhưng lạy Chúa, con cũng tin hết lòng
rằng hai người, dù xa cách nghìn trùng,
trong không gian và thời gian,
vẫn có thể gặp nhau,
hiệp nhất, sống hiệp thông sâu lắng,
nếu “tình yêu” vẫn sống động trong lòng

Đối với loài người mà con còn tin được,
thì lạy Chúa, đối với Chúa làm sao không?
Vì Chúa yêu chúng con như biển cả mênh mông.
Chúa “hiện diện” trong lòng người sâu thẳm
Hiện diện đích thực
Hiện diện hoàn toàn
Mọi lúc mọi nơi.

Lạy Chúa,
không có gì tách biệt chúng con khỏi Chúa,
không có gì không từ Chúa mà ra.
(HẾT)

Tác giả Đỗ Tân Hưng

7. CHÚA CỨU ĐỘ


7. CHÚA CỨU ĐỘ


Hương Vĩnh
(tiếp theo)

“Lạy Chúa là Thiên Chúa của con,

Chúa là ánh sáng của ngọn đèn trong tay con,
Đêm tối đời con Ngài rọi sáng.”

Giêsu - Chúa cứu độ 
Chúa cứu độ! Đó đúng là tiếng kêu vang lên từ cuộc đời tôi. Thật là kỳ diệu khi điều ấy được diễn tả bằng một tên gọi riêng: GIÊSU, dấu ấn của ánh sáng đã in sâu nơi tôi. 
Tôi là con thứ hai trong một gia đình có bốn người con, một gia đình khiêm tốn nhưng ấm cúng, chan chứa tình thương. Một cách hồn nhiên, tôi yêu thích cuộc sống. Đối với tôi, cuộc sống xem như một cuộc chơi lý tưởng, đầy mộng mơ và vẻ đẹp, hứa hẹn nhiều khám phá kỳ thú. 
Vào thời ấy, Chúa không là gì đối với tôi cả, dù rằng một đôi lúc vẫn còn vài tia sáng tâm linh họa hiếm loé lên trong tâm hồn tôi. Tuy được giáo dục trong một trường tư Công Giáo, nhưng ở đó tôi không gặp được Thiên Chúa như một Ngôi Vị đang sống. Tôi cũng thích học giáo lý, nhưng đối với tối lúc bấy giờ giáo lý cũng chỉ là một môn học thêm vào mà thôi.  
Cha mẹ tôi mang danh là Công Giáo nhưng không sống đạo, dường như còn có vẻ không thực tâm tin nữa. Tuy nhiên, các ngài ăn ở liêm chính, tốt dạ, luôn tìm cách khơi dậy trong chúng tôi lòng kính trọng kẻ khác và chính mình. Nhờ đó mà tôi đã sớm học được phải lắng nghe tiếng nói của lương tâm trong tôi.

Một thế giới bị tổn thương… 
Theo dòng năm tháng trôi qua, bầu không khí nội tâm khá lạc quan của tôi đã suy thoái. Tôi sớm nhận ra thế giới như bị tổn thương. Tôi chào đời ít lâu sau đệ II thế chiến. Tôi được nghe kể lại nhiều điều tàn bạo khủng khiếp người ta đã làm từ 1939-1945. Tôi cũng đã sớm chạm trán với vấn đề những bất bình đẳng trong xã hội và những hoàn cảnh bất công. Đến độ, càng ngày tôi càng thấy chán ngán cái thế gian mà tôi bị bắt buộc thừa kế, nhưng tôi lại không muốn liên đới với nó. 
Tôi cũng đã trải qua giờ phút mà cái chết chực sẵn ở cuối đường đời. Cơn chấn động thật khủng khiếp, và từ đó, tôi cảm thấy hụt chân. Về sau, khi đọc các tác giả hiện sinh, nhất là Camus và Ionesco, tôi đã nhận diện được điều tiềm tàng trong tôi từ nhiều năm qua. 
Tôi đã nếm mùi tuyệt vọng. Một nỗi khắc khoải sợ sống gay gắt và nhức nhối khiến tôi đã nhiều lần toan tự sát. Tôi không còn thấy cái đẹp nữa, mà luôn ray rứt với sự kiện “con người sẽ chết và không được hạnh phúc”. 
Tôi thèm khát hạnh phúc và đã tìm kiếm nó khắp nơi, bất cứ nơi nào tôi nghĩ rằng nó đang ẩn trốn ở đó. Tôi cố gắng sống, để tránh gây đau khổ cho những người tôi thân thương, nhưng tôi không tìm được nơi tôi sức mạnh để sống. Suốt mấy năm liền, tôi sống lây lất từng phút, thỉnh thoảng tôi cũng thấy tâm hồn lắng dịu trong chốc lát, nhưng rồi lại luôn cảm thấy sợ sống. 
Cái chết chờ chực ngoài cửa, mạnh mẽ trong tôi còn hơn cả chính tôi. Tôi lao hết mình vào cuộc săn tìm hạnh phúc, săn tìm "mặt trăng”, theo kiểu nói của Caligula trong một tác phẩm củaCamus. Điều ấy quả như một sức mạnh đẩy tôi ra khỏi tôi, nới rộng con tim tôi để tôi biết tạo hạnh phúc cho người khác, tất cả những người khác – nhưng còn tôi, tôi cảm thấy như bị giam cầm trong chính mình, trong sự ích kỷ của tôi.

Trong tia nhìn của Ngài…tôi đã hiểu … 
Trong nỗi khốn cùng của tôi, tôi đã cố kêu lên Thiên Chúa, hay đúng hơn, cố dành cho Ngài một chỗ trong tôi, để Ngài có thể lên tiếng, nếu Ngài hiện hữu... Và nỗi âu lo khắc khoải tiếp tục dâng cao. Tôi cảm thấy như mình sắp chìm đắm. Tôi đã kêu cầu Chúa, và Ngài đã đáp lời.  
Phải nói gì thêm nữa? Không có lời nào diễn tả được kinh nghiệm ấy. Như thánh Phaolô, tôi đã gặp Chúa Giêsu đang sống. Chúa Giêsu là Đấng Phục Sinh từ trong những kẻ chết và còn mang các vết thương của thập giá. Kinh nghiệm ấy chỉ kéo dài trong khoảng tám ngày ngắn ngủi nhưng đã có tính cách quyết định đối với tôi. 
Trong ánh mắt Ngài nhìn tôi – mà tôi không thấy được bằng mắt thịt – tôi đã hiểu tất cả: Ngài đã yêu tôi ngần nào, sự sống đã vĩnh viễn chiến thắng sự chết như thế nào. Tôi đã hiểu tất cả. Tôi tiếp tục cuộc sống hằng ngày – hoàn toàn giống như trước đó – nhưng kể từ ngày ấy, mọi sự đối với tôi đã có hương vị. 
Trong ánh mắt Ngài nhìn tôi, tôi đã gặp lại hạnh phúc. Niềm hạnh phúc tôi đã tìm kiếm từ quá lâu rồi, một niềm hạnh phúc dâng lên từ tận cùng hữu thể và tỏa chiếu khắp trần gian. 
Từ đó, lộ trình tôi theo thật giản dị. Tôi đi theo Đấng tôi yêu mến, Đấng mà Ánh Mắt dịu hiền đã đốt cháy tôi.  
Nhờ kinh nghiệm tình yêu nhân loại, tôi hiểu rằng con tim tôi không thể bị san sẻ, tôi chỉ còn có thể sống cho một mình Thiên Chúa của tôi thôi. Tôi đã vào đan viện Cát-Minh, chỉ duy theo lời Ngài gọi.  
Hẳn nhiên, tôi cũng đã cố gắng tìm hiểu, suy nghĩ, luôn có những biện pháp cẩn trọng để việc phân định được chính xác hơn. Tuy nhiên, trong căn bản, tôi đã đi theo Chúa Giêsu đang gọi tôi đằng kia, và tôi đã theo Ngài bởi tôi đã yêu Ngài. Tôi phải luôn ngạc nhiên nhận thấy rằng dù ở trong bóng tối, sự hiện diện của Ngài và điều Ngài muốn đôi khi còn hiển nhiên rõ ràng hơn sự hiện diện và ý muốn của những con người mà ta thấy và nghe được.

Cho đến mãi mãi… 
Vào đan viện Cát-Minh nghĩa là tôi phải đoạn tuyệt với nếp sống cũ trước kia. Chẳng hạn, tôi phải bỏ chỗ làm việc mà tôi đã mất công tranh đấu khó nhọc lắm mới giành được. Tôi đã trúng tuyển trong một kỳ thi rất khó, một sự nghiệp huy hoàng đang mở ra trước mắt tôi. Tôi yêu thích nghề nghiệp của tôi, vì đang giúp tôi triển nở. Cho nên tôi rất đau khổ khi phải từ bỏ nghề nghiệp đó.  
Tuy nhiên, không vì thế mà có thể nghĩ rằng tôi đã mất tất cả. Tôi đã lìa bỏ nghề nghiệp của tôi, vì không thể nào giữ lại mọi thứ. Từ đó, một tình yêu đã mở ra trước mắt tôi, làm cho tôi mãn nguyện. 
Trong đan viện Cát-Minh, tôi luôn cảm thấy hạnh phúc, dù con đường tôi đi không phải ngày nào cũng dễ dàng. Tôi không bị “cú sét’ đối với cộng đoàn, như nhiều người có vẻ đã có. Trái lại, tôi đã khám phá ra các chị em dần dần từng bước một: Họ đẹp vì họ yêu. Tôi đã khám phá điều đó ngày càng rõ. 
Con đường tôi đi thật gồ ghề khó khăn, bởi những tăm tối còn để lại nơi tôi một dấu vết nặng nề, thế nhưng tôi đã cảm nghiệm được Chúa Giêsu chiến thắng. Được thêm sức mạnh nhờ sức mạnh của Ngài, tôi tiến bước. Tôi được bàn tay Ngài nâng đỡ, bàn tay đã vực tôi cùng với A-đam và E-và ra khỏi sự chết. 
Tôi đã tuyên khấn vĩnh viễn trong dòng Cát-Minh được gần hai năm rồi. Suốt một thời gian lâu dài, tôi đã từng e ngại hai tiếng”vĩnh viễn” ấy... Tôi đã phải thất vọng và thất vọng quá nhiều, làm sao còn có thể cam kết một cách triệt để như thế. Nhưng năm tháng trôi qua, tâm hồn tôi lắng êm. Và đã đến lúc – giờ mà tôi mong chờ để cho dấu ấn Giáo Hội trói buộc tôi vĩnh viễn với Chúa Giêsu trong lòng Hội Dòng Cát-Minh. Giờ đây, thế là xong! Tôi cảm thấy sung sướng và tự do. 
Con đường tôi đi chưa hết, nhưng từ nay, dù tôi có đi trong tăm tối, Chúa vẫn là ánh sáng cho những tối tăm của tôi. Chính vì thế, tôi đã nhấn mạnh nhiều đến việc tôi đã trải qua con đường hầm của tuyệt vọng. Tôi biết rằng bao người anh em của tôi còn bị giam nhốt trong đó.  
Tôi ý thức rằng tôi như một dấu hiệu hữu hình cho thấy Thiên Chúa có thể giải cứu và hoàn trả lại sự sống. Sẽ không bao giờ quá muộn, vì người ta không bao giờ ở quá xa đối với Thiên Chúa.  
Phần tôi, giờ đây, trong đan viện Cát-Minh, tôi đang hạnh phúc. Hạnh phúc, ngắn gọn thế thôi. Hạnh phúc vì Thiên Chúa, hạnh phúc vì mình, và cũng còn hạnh phúc vì có thể âm thầm dâng hiến mạng sống để những anh em rơi vào tuyệt vọng được giải cứu.

Tu muội Chantal de Jésus
35 tuổi, nữ đan sĩ Cát-Minh 
(CÒN TIẾP)

Tác giả Đỗ Tân Hưng

6. CÁT MINH..."MỘT CHÂN TRỜI ÂN SỦNG"


6. CÁT MINH..."MỘT CHÂN TRỜI ÂN SỦNG"


Hương Vĩnh
(tiếp theo) 

Tất cả là Hồng Ân  
Khi người ta xin tôi kể lại chứng từ của tôi, thú thật, tôi đã hơi ngần ngại, nhưng rồi tư tưởng của chị Élisabeth Chúa Ba Ngôi hiện ra trong đầu óc tôi : “Mỗi giây phút, mỗi biến cố, mỗi niềm đau cũng như mỗi nỗi vui đều là bí tích Thiên Chúa ban tặng cho chúng ta”. 
Tôi xác tín rằng mỗi khi Thiên Chúa can thiệp vào cuộc đời chúng ta, Ngài thực hiện những điều kỳ diệu, và bấy giờ, chẳng còn gì là tầm thường nữa, vì tất cả đều đã được Ngài biến hóa. Do đó, tôi chấp nhận nói lên chứng từ của tôi, không phải để gây chú ý (vì thoạt nhìn vào, chẳng có gì đặc biệt xảy ra trên con đường tâm linh của tôi), nhưng chỉ muốn noi theo Mẹ Thánh Têrêxa:  “Ca tụng lòng thương xót của Thiên Chúa”.

Thăm cô giáo cũ 
Tất cả đã khởi đầu từ dịp tôi tĩnh tâm dọn mình lãnh bí tích thêm sức (lúc tôi 13 tuổi). Tôi còn nhớ, người ta yêu cầu chúng tôi giữ thinh lặng trong năm phút, sau khi đã kêu xin Chúa Thánh Thần. Những giây phút ngắn ngủi ấy đã đủ để đánh thức tôi, đưa tôi vào một chiều kích mới. Chẳng có gì thay đổi nhiều trong nếp sống của tôi.  
Tuy nhiên, qua năm sau, tôi không hiểu tại sao tôi lại quyết định đi thăm cô giáo cũ đã dạy tôi năm năm trước. Từ nhiều năm nay, cô đã vào đan viện Cát-Minh. Tôi đâu có ngờ rằng đó là “cá đã cắn câu”. 
Suốt bốn năm liền, cho đến ngày vào tu viện, tôi đã kiên trì tới lui đan viện của các nữ tu Cát-Minh. Các chị đã giúp tôi rất nhiều. Các giờ kinh thần vụ, thánh lễ, giờ cầu nguyện ban chiều sau buổi học, là những lúc tôi sung sướng được vào trong ngôi nhà nguyện trắng rộng lớn ấy của cộng đoàn để cầu nguyện. 
Một yếu tố khác góp thêm phần quyết định cho chiều hướng ơn gọi đang nảy sinh trong tôi, đó là những lần tôi được tiếp chuyện ở nhà khách, rất quý báu đối với tôi. Ở đó, tôi lắng nghe, nhìn xem, “làm quen” dần, và tôi đã tìm được ở đó điều tôi cần. Dần dần, “chân trời” của tôi hiện lên rõ hơn, vô tận, nhờ những gì tôi đã nắm bắt được xuyên qua các chấn song sắt.

Bạn bè hỗ trợ 
Một thời gian sau, khi đã vào dòng ba Cát-Minh, chân trời đã trở nên khá rộng và rõ nét, tôi rất vui lòng đón nhận ơn gọi. Tuy nhiên, còn phải mất nhiều năm nữa... Trong khi chờ đợi, cái thường ngày khiêm tốn của tôi là đi học.  
Ở đây, tôi muốn cảm tạ Chúa đã thương ban ơn giúp tôi đảm nhận và bảo toàn ơn gọi ở giữa những bạn bè mà tương lai của họ có vẻ khác xa tương lai của tôi. Vài người bạn đã gặp những khó khăn, một anh khác, si mê thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu, đã giúp tôi làm quen với chị, vài bạn khác cũng đồng ý với tôi về quan niệm cuộc sống (dù chẳng có kinh nghiệm là bao). 
Chẳng hạn, khi vào dòng Cát-Minh, tôi vẫn tin chắc rằng việc kết hôn là một điều tốt, vẫn tin rằng cái thế giới chúng ta đang sống là một thế giới có thể sống được “vì đầy triển vọng cho tương lai”.  
Phải, các bạn đã giúp tôi hiểu các điều đó, và ngay lúc này, trong tu phòng của tôi, tôi cảm thấy rất gần gũi họ. Tôi mang họ trong lời cầu nguyện của tôi, vì việc tôi rời xa thế gian đã giúp tôi được tự do hơn để nhìn lại thế gian trong chân lý, trong ánh sáng Chúa Kitô, Đấng đã đến trong trần gian để cứu độ thế gian. 
Như thế, nếu tôi có vào dòng Cát-Minh thì không phải là để trốn thế gian, nhưng chính vì tôi muốn dành ưu tiên cho tình yêu (một sự ưu tiên đặc biệt, tôi xin nói rõ như thế) và nhất là vì chính Thiên Chúa xin tôi điều ấy, và đó cũng chính là điều được Ngài dành cho ưu tiên số một.

Tiếp cận các linh mục 
Một điểm nữa để tạ ơn Chúa: tôi đã được sống với những linh mục (cha phó giám đốc trường tôi học, cha tuyên úy Cát-Minh, cha linh hướng của tôi) và các nữ tu (các chị Cát-Minh của tôi, bà giáo sư tiếng Hy lạp), đều là những người đã biết tôn trọng công việc của Thiên Chúa nơi tôi. Các vị không hề cưỡng ép, hoặc "gợi ý" cho ơn gọi của tôi.  
Các vị đã nuôi dưỡng nó, với một lòng vô vụ lợi tuyệt đối... dù rằng cũng có đôi lúc các vị nôn nóng muốn tôi nói lên điều các vị đã ức đoán... Tôi nghĩ đó là một gương tông đồ tuyệt đẹp, kín đáo và đầy hiệu năng: các vị cầu nguyện cho tôi, nâng đỡ tôi. Vâng, cần phải cầu nguyện cho các ơn gọi được triển nở cho đến cùng. Đó là điều thật quan trọng.

Những lúc khó khăn 
Tôi cũng muốn nêu lên một điều nữa; đó là ơn được trải qua “những lúc chẳng dễ dàng gì”... (cũng như mọi người vậy thôi). Chính trong những lúc khó khăn ấy, Thiên Chúa cho thấy Ngài tin tưởng chúng ta. Chúng ta cũng phải đáp lại lòng tin tưởng của Chúa bằng lòng tin tưởng của chúng ta: lòng tin tưởng mời gọi lòng tin tưởng, như “vực thẳm kêu gọi vực thẳm” (Tv 41).  
Thiên Chúa luôn muốn điều tốt lành cho con cái Ngài, và thử thách là tấm ván nhún để lấy đà tung lên cao trong tình yêu đầy thương xót của Ngài. Theo nghĩa ấy, có thể nói, thử thách là một ân sủng rất quý giá. 
Tôi đã quyết định chọn đời sống Cát-Minh mùa hè 1985, và ngày 15-10-1985, lễ Mẹ Thánh Têrêxa, ngày hồng ân, tôi vào đan viện mà hiện tôi đang làm tập sinh. Tôi mặc áo dòng của Đức Mẹ từ tháng 4-1986.

Những hồng ân 
Bây giờ, xin nói đâu là những khác biệt giữa những ân sủng của lòng thương xót Chúa trước và sau cuộc đổi thay trong đời tôi? Trước hết, tôi cảm nghiệm được một niềm hứng khởi lớn lao. Hứng khởi, không phải ở những bộc lộ bên ngoài, nhưng do cảm nhận một sự hiện diện, một tiếng gọi vào sa mạc, một sự "chiếm hữu Thiên Chúa tận đáy lòng” như hai tiếng hứng khởi đã gợi ý. Không ngừng phải tập giữ gìn và duy trì một thái độ định tâm, tràn ngập lời ca tụng âm thầm và vui tươi. Hứng khởi đối với tôi là thế đấy.  
Tôi bắt đầu phát hiện những “kho báu chồng chất” được ẩn giấu trong tâm hồn chúng ta, những giàu sang phong phú mà một nếp sống hời hợt sẽ khiến chúng ta không biết trân quý: 
- Ơn được rửa tội và chất chứa trong mình cả một cuộc sống của Thiên Chúa Ba Ngôi. 
- Ơn nhận biết mình được Thiên Chúa yêu thương, đến độ được Ngài gọi một cách huyền nhiệm. 
- Ơn được có lòng tin. 
Tóm lại, bằng ấy những sự cao trọng của Thiên Chúa phải đưa chúng ta đến chỗ có cùng một thái độ như Mẹ Maria ngày truyền tin. Chính do đó mà tôi có được niềm vui lớn lao mà chỉ một mình Thiên Chúa mới biết được cường độ đó: niềm vui được sống trong một nhà dòng “hoàn toàn thuộc trọn về Mẹ Maria”, nơi mà Mẹ hằng hiện diện liên lỉ, âm thầm, thật sâu kín thân mật và đầy tình từ mẫu.

Môi trường thuận lợi 
Một lý do khác nữa để tạ ơn: đó là tôi đã có thể sống trong dòng Cát-Minh một cuộc sống đi thẳng tới mục tiêu, không có những vấn đề khó khăn giả tạo. 
Nếu ta tuân theo những yêu sách của sự thinh lặng và cô tịch để sống cho duy một mình Thiên Chúa, ta sẽ có được tấm lòng đơn sơ (vẫn thường dễ nhận thấy trong các mối giao tiếp huynh đệ, các buổi giải trí vui tươi...) có sức nuôi dưỡng một thứ âm vang nội tâm và xóa bỏ khía cạnh lắm khi hời hợt của các sự vật, để chỉ chú tâm vào những điều cần thiết đích thực. Nhờ đó, sự đơn sơ ấy nuôi dưỡng mọi lời cầu nguyện của ta, nhất là lời nguyện trọng đại chuyển cầu cho thế giới, cho các linh hồn và cho Giáo Hội.  
Chính vì thế mà ngày nào cũng có những “thời khắc mạnh mẽ” để kích thích thái độ ấy: mỗi ngày hai giờ tâm đàm, đó là lúc theo gương ngôn sứ Êlia, chúng ta được gọi đến ngắm nhìn Thiên Chúa hằng sống, Đấng luôn giữ chúng ta trong tầm mắt Ngài.  
Đặc biệt Thánh Thể là lời tạ ơn tuyệt hảo, chóp đỉnh của cả ngày. Ở đó, Thiên Chúa tự mặc khải qua việc ban tặng Con Ngài cho chúng ta. Ngài là “Đấng mà ta biết là rất yêu ta”. Vâng, bao giờ cũng thế, Thiên Chúa luôn yêu thương chúng ta trước... Nhờ đó mà mọi sự trở thành giản dị và bình an.

Cộng đoàn ân sủng 
Sau hết, thật lớn lao thay lòng nhân hậu của Chúa, vì Ngài đã cho tôi được sống trong cộng đoàn tôi đang sống. Ở đây, Ngài đã ban cho tôi thật nhiều anh em, tất cả đều khác nhau, mỗi người góp một vài nét cá biệt, một số kinh nghiệm sống (theo ý nghĩa đó, các tu huynh cao niên có thể cung cấp những chứng từ quan trọng về lòng trung thành bền bỉ ở trong dòng).

Cảm tạ Chúa 
Chúc tụng Chúa, vì Ngài đã đốt lên trong tôi tình yêu nồng nhiệt đối với Hội Dòng đã tiếp nhận tôi, cũng như đối với các vị thánh của dòng đã dìu dắt tôi từ những bước đầu trong đại gia đình này, một gia đình hoàn toàn hiến thân để phục vụ Giáo Hội là Mẹ tôi. 
Cuối cùng, tôi xin ghi thêm một điểm cá nhân trong bài hát ca tụng lòng thương xót của Chúa: 
Ở ngoài đời, “tuổi đôi mươi” thường được xem là tuổi đẹp nhất. Còn trong dòng, theo lời của một số anh em và các cha, thời gian nhà tập là thời gian để lại những kỷ niệm đẹp nhất trong đời tu. Nếu cả hai quả quyết ấy đều đúng, thì tôi có thể cảm tạ Thiên Chúa đã cho tôi được hun đúc tuổi hai mươi của đời tôi trong tập viện, và hơn nữa, đã cho tôi được hưởng nếm trọn vẹn, vì hoàn toàn ý thức, lòng tốt tràn đầy tế nhị ấy của Chúa đối với tôi. 
Đấy, tôi đã trình bày một vài ân sủng đã nhận, và tôi xin thêm rằng tôi chưa nói hết tất cả... Chưa! Nhưng tôi không thể nào nói hết, vì tôi không biết được tất cả những gì đang diễn ra trong tâm hồn tôi, vả lại, tôi sẽ phạm phải tội phản bội, tiết lộ “bí mật của nhà Vua”, nếu tôi cố nói nhiều hơn... 
Vì vậy, tôi xin dành cho Chúa Giêsu, tôi xin cảm tạ về tất cả những gì chỉ một mình Ngài biết và bảo tồn trong tôi. Tôi cũng xin dành cho Ngài niềm vui được tự tay Ngài hoàn tất bài ca tạ ơn này, và tôi xin cầu chúc cho tất cả những bạn đọc mấy dòng này, hưởng niềm vui được nói “cám ơn” với Đấng đã và đang còn thực hiện những điều kỳ diệu nơi mỗi người chúng ta.

Tu huynh Louis Marie de Jésus
20 tuổi - Tập sinh Cát-Minh 
(CÒN TIẾP)

Tác giả Đỗ Tân Hưng

5. TỰ MUÔN ĐỜI VÀ CHO ĐẾN MUÔN ĐỜI


5. TỰ MUÔN ĐỜI VÀ CHO ĐẾN MUÔN ĐỜI


Hương Vĩnh
(tiếp theo) 
Ơn gọi chiêm niệm 
Tôi tên là Lysiane, năm nay 18 tuổi. Tôi sống trong một thành phố diễm lệ và đã cảm nhận tiếng gọi sống đời tu từ ngày 29-08-1983 (một biến cố đánh dấu cuộc đời). 
Hôm ấy, tôi cùng với cha mẹ tôi đến thăm bà hiệu trưởng cũ trường trung học của tôi đã về hưu, và là nữ tu dòng Các Chị Em Bác Ái. Nhà mẹ là một tu viện Biển Đức cũ. Trong một lúc đang cầu nguyện, tôi có một ấn tượng thật lạ lùng. Thật là một “cú sét”: tôi khám phá ra rằng Chúa Giêsu đã yêu tôi từ muôn đời và Ngài mời gọi tôi sống gần gũi Ngài hơn. Đôi mắt tôi như được mở ra. Tôi đã tưởng rằng Ngài muốn gọi tôi trở thành một nữ tu Bác ái, nhưng Ngài chưa nói ra tất cả... 
Khi cha mẹ tôi biết rõ ý nghĩ ấy, thì kỳ diệu thay, hai ông bà sung sướng tán đồng quyết định của tôi. Tôi tham gia một nhóm tìm hiểu, họp nhau ba tháng một lần trong một tu viện. Nhóm này do cơ quan quốc tế về ơn gọi điều khiển. Trong một ngày cuối tuần tại tu viện Biển Đức, tôi nhận thấy được tầm quan trọng của đời tu chiêm niệm. Tôi hiểu hơn bao giờ hết rằng Chúa cần đến “những con tim cầu nguyện”, chăm chú lắng nghe lời Chúa và suy niệm trong thâm cung tâm hồn.

Gặp gỡ đan viện Cát-Minh 
Do ơn Chúa quan phòng, tôi đã gặp một đan viện Cát-Minh và thấy lòng hướng về đó. Quả thế, tôi cảm thấy bị thu hút bởi đời sống Cát-Minh, và tôi cảm thấy yêu mến, tôn sùng đặc biệt chị thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu. Chính chị dìu dắt tôi trên “con đường nhỏ” và dẫn dắt cái hư không nhỏ bé của tôi. Tôi nóng lòng sớm được sống chung với các chị của tôi. Họ khiến tôi say mê họ. Các chấn song sắt Cát-Minh như cánh cổng của một vương quốc, nhưng than ôi, lúc đó tôi vẫn còn như bị cấm đoán... 
Tôi đang theo học năm thứ nhất trường đào tạo y tá của Hội Chữ Thập Đỏ. Tôi mong sớm đạt bằng tốt nghiệp để trở thành điều chị Têrêxa bé nhỏ từng ao ước, và tôi thân thưa với Đấng tôi yêu rằng: “Vâng, con mong sớm được trở thành bạn lòng của Chúa, ôi Chúa Giêsu, trở thành nữ tu Cát-Minh, trở thành mẹ các linh hồn nhờ được kết hợp với Chúa”. 
Tôi cũng muốn trở thành thừa sai, đi truyền giáo ở Châu Phi trước khi vào dòng Cát-Minh, thế nhưng rồi tôi đã cảm thấy được gọi hãy mau trèo lên đỉnh Cát-Minh hồng phúc. Ba năm học còn lại sao mà dài đến thế! Rõ thật là gay go để sống theo lý trí một khi đã yêu, nhất là khi người yêu lại là chính Chúa Giêsu Kitô! Thật quả là khó mà cưỡng lại Tình yêu...

Tu muội Lysiane
18 tuổi - Thỉnh sinh Cát-Minh  
(CÒN TIẾP)

Tác giả Đỗ Tân Hưng

4. MỘT CUỘC GẶP GỠ ĐẢO LỘN CUỘC ĐỜI


4. MỘT CUỘC GẶP GỠ ĐẢO LỘN CUỘC ĐỜI


Hương Vĩnh
(TIẾP THEO) 
Tiếng Gọi 
“Tôi bảo thật, Tôi bảo thật anh em, nếu hạt lúa rơi xuống đất không chết đi, nó sẽ trơ trọi một mình, nhưng nếu nó chết đi, nó sẽ mang lại nhiều hạt mới!” (Gio 12, 24).  
Chúa đã gọi con như thế đấy, Chúa ạ! Chúa đã muốn Lời ấy đánh thẳng vào tâm trí con, dù bấy giờ, con chưa hiểu trọn tất cả ý nghĩa của nó. Đã từ lâu lắm rồi, Chúa đã gọi con để phục vụ Chúa. Chúa đã chọn con để trở thành linh mục của Chúa. Tại sao? Con không biết... Tuy nhiên, điều ấy đã tồn tại không lay chuyển.

Tìm Kiếm 
Thế rồi, nỗi lòng con khát khao Chúa, khát khao Thánh Ý Chúa đã đưa con đi xa hơn. Quả thế, đầu năm cuối cùng bậc trung học, những câu hỏi đã dồn dập đổ tới: Rồi sau này con sẽ làm gì? Tiếp tục học hay làm gì khác? Con tìm hiểu Huynh Đoàn Thừa Sai Thánh Tâm Chúa Giêsu (Cộng Đoàn Emmanuel), Cộng Đoàn Sư Tử Nhà Giuđa, Tu Hội Cát-Minh Đức Bà Nguồn Sống... Các cuộc tiếp xúc mang lại cho con nhiều kinh nghiệm phong phú. 
Tuy thế, tất cả không đáp ứng ơn gọi mà con đã nhận, ơn gọi của riêng con. Dù sao, bao nhiêu lời cầu nguyện của các thầy dòng và của cha linh hướng của con đã là bấy nhiêu ngọn đuốc soi đường trong đêm tối. Chúa còn nhớ, khi con hỏi Chúa muốn con làm gì, Chúa đã trả lời con rằng: “Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình, hãy vác lấy thập giá mình mỗi ngày mà theo Ta.” (Lc 9, 23). Tuy thế, tâm trí con còn u tối và con vẫn còn kháng cự lại!

Gặp Gỡ Thánh Gioan Thánh Giá 
Chính lúc ấy, Chúa cho con một cuộc gặp gỡ đảo lộn cuộc đời: Thánh Gioan Thánh Giá! Trước tiên, ngài chỉ cho con một mục tiêu, con hớn hở vui mừng khi đọc đoạn mô tả sự kết hợp giữa linh hồn với Thiên Chúa. Như thế, con người có thể “trở thành Thiên Chúa nhờ việc dự phần”. Con còn đòi hỏi gì hơn nữa? Nhưng không vì thế mà mọi sự được giải quyết... Đối với con, đoạn sách ấy không hề có nghĩa là con phải chọn dòng Cát-Minh.  
Tuy nhiên, lạy Chúa, Chúa biết rõ việc Chúa làm. Quả vậy, vì bấy giờ, con đang tĩnh tâm thinh lặng tại Cộng Đoàn Đức Bà Nguồn Sống. Trong nhiều ngày, con đã sống theo một nhịp sống hoàn toàn giống như trong đan viện Cát-Minh mà không ngờ: hai giờ nguyện gẫm mỗi ngày, các giờ kinh thần vụ, dùng bữa trong thinh lặng, cô tịch trong phòng riêng... Và, con phải thú nhận rằng, chưa bao giờ con được thoải mái đến như thế: Đấy là kỳ nghỉ hè tốt đẹp nhất đời con.  
Hẳn nhiên, không khí thinh lặng miền quê Provence thật là một trong những nơi thích hợp nhất để con miệt mài đọc Thánh Gioan Thánh Giá. Bấy giờ, con đọc được trong quyển “Đêm Tối” một đoạn song song với quyển I của “Đường Lên Núi Cát-Minh” tức phần chú giải đoạn thứ nhất của bài thơ. Trong đoạn này, thánh Gioan mô tả các điểm bất toàn chủ yếu nơi những người mà ngài gọi là “những người mới nhập cuộc", những người mới khai tâm trong đời sống tâm linh.  
Mỗi lần đọc đến một khuyết điểm mới, con lại cảm thấy như ngài nhắm vào chính con. Hệt như là cha linh hướng của con, vừa nói vừa đặt ngón tay trên những vết thương của con, nói trúng phong phóc những tính xấu của con. Và thế là, con cảm thấy bị dồn vào thế phải chọn lựa triệt để: “Hoặc tất cả hoặc không gì hết”, phải quyết định dứt khoát một lần hoặc bỏ tất cả để theo Chúa, lạy Chúa Giêsu, hoặc sẽ mãi mãi loay hoay với những biện pháp nửa vời.

Đáp trả 
Sau một cuộc đấu tranh nội tâm cam go, con đã trả lời với Chúa là: “Vâng, con sẵn sàng đi qua cái không có gì hết để đạt tới cái tất cả của Tình Yêu Chúa”. Bấy giờ con hiểu rằng, trong cuộc leo núi đầy nguy hiểm ấy, con không thể tìm được một vị dẫn đường tâm linh nào tốt hơn thánh Gioan Thánh Giá. Ngài đã không chỉ đường cho con rồi đấy sao?  
Trong thời gian chờ đợi, con tình cờ gặp một cha dòng Cát-Minh trong bộ áo dòng Cát-Minh, điều này gieo vào lòng con ý nghĩ rằng có lẽ Chúa đã gọi con vào dòng của Đức Trinh Nữ Maria Núi Cát-Minh. Con đem điều này trình bày với cha linh hướng và ngài cũng nghĩ rằng con nên gặp các cha Cát-Minh càng sớm càng tốt (bấy giờ con chưa quen biết một vị nào cả!). 
Giờ đây con cảm tạ Chúa đã đưa con vào dòng của Mẹ Thánh Chúa, để từng ngày con được sống với các giới lệnh của Chúa cho đến chết vì tình yêu. Con biết rằng con đang ở đúng nơi Chúa muốn, đúng lúc Chúa muốn, trong lúc này. Con không ao ước gì khác hơn là: “Nguyện cho Ý Cha được thực hiện”.

Tu huynh Jean-Emmanuel de Sainte Marie
19 tuổi - Tập sinh Cát-Minh 
(CÒN TIẾP)

Tác giả Đỗ Tân Hưng

3. TA SẼ VĨNH VIỄN ĐÍNH HÔN CON VỚI TA


3. TA SẼ VĨNH VIỄN ĐÍNH HÔN CON VỚI TA


Hương Vĩnh
(TIẾP THEO) 
Hồi tưởng lại, tôi thấy có ba chặng trên con đường ơn gọi của tôi, tức là trong việc tôi dần dần tiếp nhận Tình Chúa thương xót đối với tôi, và trong tôi đã dần dà manh nha một lời đáp trả như tiếng dội của lòng thương xót ấy.

Tôi tưởng đã chết rồi… 
Giai đoạn thứ nhất khởi đầu từ năm 1981, cách đây ba năm, và có thể được tóm lại trong câu thánh vịnh: “Kẻ nghèo hèn kêu lên... và Chúa đã nhậm lời ... Ngài đã giải thoát họ khỏi mọi nỗi âu lo”. 
Giữa lúc trong tâm hồn tôi luôn vang lên những khát khao và cảm hứng sâu xa, thì tôi lại theo đuổi cuộc sống hẹp hòi ích kỷ. Sự cách biệt giữa đôi đàng ngày càng khiến tôi không thể chịu đựng nổi nữa. Tôi đã mơ sống tình huynh đệ với tất cả mọi người trong sự thật, vượt trên mọi chia cách về thế hệ, văn hóa, chủng tộc. Thế nhưng khi tôi thử sống điều đó, lập tức, tôi đã phải đương đầu ngay với những điều không thể. Tôi không biết phải theo quy tắc nào, tôi không biết đâu là điểm cân bằng, đâu là chân lý. 
Cho nên tôi lại quay về với mình, để thấy mọi sự trong tôi và quanh tôi ngày càng trở nên cằn cỗi vô bổ... Bấy giờ, từ đáy tâm hồn tôi vang lên một tiếng kêu khắc khoải, một tiếng kêu cơ bản, một tiếng kêu không nên lời, nhưng còn mạnh hơn mọi tiếng kêu ở Jéricho và đã làm sụp đổ mọi thứ thành trì nho nhỏ trong đời tôi.  
Tôi tưởng đã chết nhưng thực ra đó lại là cách khởi đầu cho cuộc sống đích thực của tôi. Bởi bấy giờ, trong phạm vi đời sống tôi, không còn gì đứng vững, kể cả chính tôi. Lần đầu tiên, tôi đã có một cái nhìn chính xác về con người thực của tôi. Chắc chắn là tôi đã không sao chịu đựng nổi điều đó, nếu Chúa đã không gởi Đức Mẹ Maria đến với tôi. 
Một đêm kia, Đức Mẹ đã hai lần gọi tôi, bằng chính tên tôi. Đó là tất cả những gì tôi đã biết một cách ý thức, nhưng cũng từ lúc đó, Đức Mẹ đã đi vào lòng tôi và đã mang tôi như một người Mẹ trong suốt quãng đời sau đó cho đến hôm nay; và Thiên Chúa biết tôi cần đến Mẹ tới mức nào?

Chúa Giêsu trở thành một ai đó! 
Thế nhưng cuộc hoán cải ấy chưa tác động đến toàn bộ cuộc sống tôi, nó chỉ mới là và vẫn luôn là một hạt giống gieo xuống đất. Trong suốt hai năm sau đó, Chúa đã dẫn dắt tôi như một người mù, như thể thánh Phaolô trên đường Damas... Tôi biết rằng tôi phải tiến bước trong tâm tình phó thác.  
Tuy nhiên, cuộc sống tôi không phản chiếu được niềm an bình hay niềm vui. Tôi ngày càng cảm thấy xa cách với những người từng là bạn trai, bạn gái thân thiết của tôi, và tôi cũng không cùng ngôn ngữ với những Kitô-hữu “dấn thân” mà tôi từng gặp gỡ. Tôi như bị treo lơ lửng giữa hai trạng thái mà không muốn buông bỏ bên nào.  
Cuối cùng, trong một cuộc tĩnh tâm ở Bỉ được tổ chức theo phong trào “Canh Tân Đoàn Sủng”, tôi gặp được vị linh hướng tôi hằng mong đợi. Ngài thật là người được Thiên Chúa sai đến với tôi, như nhân chứng của lòng thương xót và nhân hậu của Thiên Chúa, để lấy tình yêu soi sáng cho những chọn lựa cốt yếu mà tôi phải làm. 
Đó là giai đoạn hai. Tôi chuyển từ linh đạo của các thánh vịnh sang linh đạo của Tin Mừng: Chúa GIÊSU trở thành một AI ĐÓ đối với tôi. Ngài nói với tôi trong hiện tại. Ngài dùng Lời Ngài mà dẫn dắt tôi. Bản văn đầu tiên đã đánh động tôi tận đáy lòng, là đoạn Chúa Giêsu rửa chân cho các tông đồ: lòng thương xót vô biên của Chúa, lòng trìu mến của một vị Chúa đã trở nên bạn của loài người...  
Thoạt đầu, đoạn văn này làm tôi khó chịu, và cũng như Phêrô, tôi từ chối không để Chúa rửa chân cho tôi, tôi không thể để Chúa quỳ xuống trước mặt tôi. Thế nhưng rồi cũng như Phêrô, tôi đành chấp nhận. Tôi bị quyến rũ, tôi yêu tấm lòng dịu hiền, khiêm nhượng của Đấng ban tặng tất cả... và cũng đòi hỏi tất cả. Tôi cứ tiếp tục tâm trạng của Phêrô, cho đến lúc Chúa hỏi ông: “Con có yêu mến Thầy không ?”...  
Tiếng nói ấy vang dội trong tôi, vừa cho riêng tôi, vừa cho mọi người. Tuy nhiên tôi không tìm được trong tôi một tình yêu nào tương ứng, cho nên tôi luôn đáp lại rằng: “Lạy Chúa, con ước ao được yêu mến Chúa”. 
Như thế, tôi kẹt giữa ơn huệ của lòng Ngài thương xót và tiếng gọi của tình Ngài mến yêu. Tôi cảm thấy như bị kẹt cả hai đầu, và cuối cùng, bị dồn vào chân tường... Chính lúc ấy, Mẹ bề trên đan viện Cát-Minh hỏi tôi: “Sao? Cô muốn xin vào ở với chúng tôi à?” Và cuối cùng, sau bao nhiêu giông tố, bao nhiêu hoang mang, từ tận đáy lòng, tôi đã thốt lên lời “thưa vâng” bằng tất cả tâm hồn. Alleluia!... 
Và giai đoạn ba, đó là: “Ta sẽ đính hôn con với Ta vĩnh viễn, trong công bình và chính trực, trongtrìu mến và thương xót, Ta sẽ đính hôn con với Ta cho đến đời đời và con sẽ nhận biết Giavê”.

Tu muội Claire-Marie de la Résurrection
25 tuổi – Đan-nữ Carmel 
(CÒN TIẾP)

Tác giả Đỗ Tân Hưng

2. MỘT CHIỀU THÁNG CHẠP...


2. MỘT CHIỀU THÁNG CHẠP...


 Hương Vĩnh
(TIẾP THEO) 
Ngọn lửa thiêu đốt  
Các nẻo đường ân sủng thật khác nhau. “Thánh Thần muốn thổi đâu thì thổi”, lúc bất chợt như cơn lốc, lúc nhẹ nhàng như gió thoảng, lúc lại dai dẳng triền miên... Tôi xin các bạn cùng tôi chúc tụng Thiên Chúa, vì một chiều tháng chạp, Ngài đã làm cho tôi hiểu rằng, Ngài muốn tôi hiến dâng trọn vẹn đời tôi cho Ngài, ở đàng kia, trên núi Cát-Minh. 
Vâng, quả thật, Thiên Chúa của chúng ta là một “ngọn lửa thiêu đốt”, và tôi có thể tiếp lời chị thánh Têrêxa mà nói rằng: “Khi trong con tim xuân trẻ của tôi còn bừng cháy ngọn lửa mang tên Tình Yêu”, Ngài đã đến đòi lại ngọn lửa ấy... 
Như các bạn biết, tình yêu bao giờ cũng nôn nóng, thiếu nhẫn nại: Thế là tôi sẽ vào dòng Cát-Minh ngày 14 tháng 9 tới đây.

Mầu nhiệm Tình Yêu 
Thật khó mà dùng lời nói để giải thích cho các bạn một quyết định như thế, bởi vì đó là mầu nhiệm tình yêu. Chính vì cháy bừng tình yêu đối với tôi và đối với các bạn, Chúa Giêsu đã đi đến chỗ để cho người ta đóng đinh vào thập giá! Chính vì tình tôi yêu Ngài, mà tôi chọn nội cấm, tôi chọn mất tất cả, đánh mất chính bản thân trong Ngài, làm tù nhân cho tình yêu của Ngài. 
Đó là mầu nhiệm tình yêu mà người ta không thể nào giải thích hay biện minh thấu đáo được. Điều tôi có thể nói với các bạn là vào buổi chiều tháng chạp khó quên ấy, tôi cảm thấy được yêu thương như chưa hề được yêu thương, “giờ đây, tôi chỉ còn một nỗi ước mơ, đó là được yêu mến Chúa Giêsu đến cuồng si” (Têrêxa nhỏ).

Mảnh vườn Cát-Minh 
Cát-Minh trong tiếng Do-Thái có nghĩa là “khu vườn của Thiên Chúa”. Trong Kinh Thánh cũng như trong mọi nền văn chương, cánh vườn thường là nơi của những cuộc gặp gỡ, của tình thân mật. Thật là tuyệt diệu và thật là ý nghĩa: khi vào dòng Cát-Minh, tôi chọn sự cô tịch thật đấy, nhưng làcô tịch để hiệp thông mật thiết hơn với Chúa Kitô, và qua Ngài, với tất cả mọi người. Tôi muốn ở một mình để sống một sự hiện diện hoàn toàn với Thiên Chúa. 
Tuy nhiên, tôi cũng hoàn toàn ý thức rằng Cát-Minh không là và sẽ không bao giờ là vườn Eden (địa đàng)... Cát-Minh đối với tôi cũng sẽ là sa mạc (Ôi, nghịch lý biết bao!). Sa mạc không lối mòn, không chỗ nào có nước, nơi tôi sẽ gặp đắng cay, sẽ phải khô khan trong tâm hồn, sẽ phải lột bỏ, tắt một lời, tôi sẽ gặp nỗi đau khổ phải sống tình yêu của tôi đối với Chúa Kitô, xuyên qua những giới hạn, những tầm thường, những yếu đuối của con người tôi. Lòng thì khát khao nước hằng sống nhưng tôi sẽ chỉ có những dòng nước mắt... 
Thế nhưng tôi tin tưởng, bởi vì:
“Trên trần gian, sống yêu thương,
Không phải là dựng lều trên đỉnh Thabor,
Nhưng là cùng với Chúa Giêsu, trèo lên núi Sọ...”
(Chị thánh Têrêxa) 
Để cứu độ thế gian! Quả là tuyệt vời cái sứ mạng trở nên tình yêu giữa lòng Giáo Hội và thế giới. Trong mọi hoàn cảnh, tình yêu không ngừng tin tưởng, dâng hiến, hy vọng và tôn thờ trong thinh lặng. 
Một ơn gọi đẹp và huyền bí vượt quá trí tưởng tượng của tôi. hầu như mỗi lần nghĩ đến nó, tôi đều chìm đắm trong tâm tình tôn thờ, và tôi thèm được thốt lên như thánh Phaolô: “Ngài đã yêu thương chúng ta nhiều quá”. Tôi cảm thấy mình hết sức bất xứng cho nên tôi van xin tất cả các bạn hãy nhớ đến tôi trong kinh nguyện. Các bạn hãy cầu nguyện để trong mảnh vườn Cát-Minh ấy, tôi được hoàn toàn thuộc về Ngài, và Ngài có thể mang tôi đi đâu, bất cứ nơi đâu Ngài muốn. 
“Lạy Chúa, chúng ta hãy cùng sánh bước bên nhau,
con sẽ đi theo bất cứ nơi nào Chúa đi,
Chúa qua nơi nào, con sẽ theo qua nơi đó” (Têrêxa Avila). 
Tôi cũng xin các bạn cầu nguyện cả cho gia đình tôi, và những bạn hữu thân thiết nhất của tôi, và... tôi cũng xin được nói cùng các bạn lời cám ơn vô bờ bến của tôi, bởi nếu tôi đã có thể thưa "vâng" cũng chính là nhờ tất cả các bạn.

Tu muội Anne Françoise de Jésus en Agonie
20 tuổi -Tập sinh Cát-Minh
(Thư gởi các bạn hữu sinh viên) 
(CÒN TIẾP)

Tác giả Đỗ Tân Hưng

VIII: CÁT-MINH NGÀY NAY - 1. TÔI ĐÃ HIỂU RẰNG CHÍNH Ở ĐÂY


VIII: CÁT-MINH NGÀY NAY - 1. TÔI ĐÃ HIỂU RẰNG CHÍNH Ở ĐÂY


Hương Vĩnh
(tiếp theo)
CHỨNG TỪ CỦA NHỮNG ĐAN SĨ TRẺ TUỔI
Từ cực tây xứ Basque lặn lội sang miền Nam vì Chúa, quả là một cuộc phiêu lưu! Từ thời ấu thơ, tôi đã được tình yêu thương xót của Chúa chinh phục, dẫn dắt từng bước một và uốn nắn thành của riêng Ngài. Vâng, Chúa Giêsu và Mẹ Ngài đã chuẩn bị tất cả cho tôi, những thử thách cũng như niềm vui, ơn lành chồng chất...
Tôi chỉ muốn một Tình Yêu còn mãi… 
Ngay từ thuở nhỏ, tôi đã được Chúa chiếm đoạt. Tôi rất sung sướng được tham dự Thánh Lễ. Tôi thường vào rừng để lần hạt. Tôi yêu mến Đức Trinh Nữ Maria thật nhiều... Tôi nhất định trở thành linh mục, theo gương những vị linh mục mà tôi quen biết. 
Nhưng rồi đến tuổi thiếu niên, tôi đã khám phá ra biết bao điều mới mẻ, và nhất là tôi muốn sống như mọi người. Tuy nhiên, tôi lại đòi hỏi phải có một tình yêu còn mãi, chứ không như những tình yêu người ta đề nghị cho tôi... Người ta hãnh diện với khả năng “tiêu thụ”, với những gì họ "có", còn tôi, tôi lại khao khát muốn được "là", được "hiện hữu", khao khát đến nghẹt thở.  
Chỉ có Chúa mới thỏa mãn được tôi. Tự thâm sâu, tôi vẫn chắc chắn như thế, cho nên tôi hằng hết sức cố gắng khước từ những gì không phải là “Tình Yêu Tuyệt Đối” của Chúa Kitô... Đó không phải là chuyện đương nhiên và dễ dàng!... Thế nhưng Chúa Giêsu là tất cả đối với tôi, tôi vẫn tin chắc như thế. 
Nhưng rồi tôi ngã bệnh: một trận cảm cúm. Để giết thì giờ, tôi lấy một quyển sách trong thư viện, đó là quyển “Một Tâm Hồn”. Tác giả là một nữ tu tôi đã được biết từ khi còn bé. Khung ảnh chị, tôi còn giữ trong phòng tôi. Tôi đã đọc tập chuyện bằng tranh về cuộc đời chị. Người ta bảo tôi rằng chị là một trong những vị thánh lớn nhất... Vì thế, tôi quyết định đọc quyển sách đó. Và cũng từ đó, chúng tôi không thể rời nhau, chúng tôi rất hợp ý nhau...

Nhưng còn thiếu nhựa sống  
Trong thời gian ấy, tôi thấy ơn Chúa tác động mạnh trong lòng và tôi cần phải đáp lại. Tôi quyết định vào “chủng viện”. Tôi thật sung sướng khi được học hỏi về Chúa Kitô bằng cầu nguyện, bằng các môn học giúp cho tâm trí hiểu biết thêm về Ngài, bằng đời sống huynh đệ và bao chuyện khác... Tuy nhiên, tôi nhận ra rằng khi làm những điều đó, tôi đã chưa “cầu nguyện” cho đủ.  
Trong dịp “Đại Hội Thánh Thể”, tôi đã bừng tỉnh và tìm lại được chỗ đứng của Thánh Thể và của Đức Mẹ Maria trong đời tôi. Tôi rất ham thích những việc tôi làm, nhưng thiếu "sức bật", thiếu nhựa sống... Và rồi, tôi được quen biết “các nữ tu Cát-Minh”. Họ nâng đỡ tôi bằng lời cầu nguyện. Họ sinh tôi ra trong cuộc sống của Thiên Chúa, bằng một khả năng sinh sản huyền bí.  
Sức mạnh của họ: Chúa Giêsu. Vũ khí của họ: cầu nguyện và hy sinh, để “yêu mến Chúa Giêsu và làm cho Chúa Giêsu được yêu mến!” Những nữ tu Cát-Minh, quả là một mầu nhiệm! Cuộc sống ấy hẳn là rất đẹp, thế nhưng dòng Cát-Minh không phù hợp với tôi, tôi còn có quá nhiều những cái “nhưng”. Và còn cả một cái “tôi” lù lù ra đó! 
Mặt khác, tôi phụ giúp việc mua bán cho gia đình, như một môi trường để tập suy nghĩ. Tôi gặp gỡ tiếp xúc rất nhiều người... Làm thế nào để giúp họ nhận biết Chúa Giêsu Kitô? Có những người đã tìm Ngài cách vô vọng, trong men rượu, trong bao thứ giải sầu khác...

Sống bé nhỏ trong phó thác… 
Để làm sáng tỏ những ý nghĩ của mình, tôi quyết định tĩnh tâm tại một tu viện Cát-Minh thân thiết mà tôi rất yêu thích, vì thấy bầu không khí thinh lặng, dễ hồi tâm, và thấy các nữ tu đầy lòng sốt sắng. Các chị cầu nguyện nhiều, xin Chúa soi sáng cho tôi... Nhờ lời cầu nguyện của các chị em nhỏ bé, tôi đã hiểu rằng đúng là ở đấy, Chúa gọi tôi ở đấy, bất chấp những “nhưng mà” của tôi... Bằng mọi giá, tôi phải đáp lại tiếng gọi ấy!... 
Hơn nữa, Thánh Nữ Têrêxa nhỏ đã giúp tôi khám phá ra các thành viên khác trong gia đình Cát-Minh: “Đức Mẹ” yêu mến mà tiếng Tây-ban-nha của tổ tiên tôi quen gọi là "Madre", “Thánh Gioan Thánh Giá, Chân Phước Élisabeth Chúa Ba Ngôi, cô bé Mi-ri-am…” tất cả đã làm tôi say mê.  
Nhưng trên hết, tôi đã hiểu rằng phải luôn giữ mình nhỏ bé trong tin tưởng phó thác, nếu không, tôi có thể tỏ ra trịnh trọng quá, biến mình thành “người lớn” mất... 
Đấy, nhờ lòng thương xót vô biên của Chúa Cha, dưới ánh mắt nhìn của Mẹ Maria và nụ cười của cô Têrêxa bé nhỏ: một cậu bé của Chúa Giêsu đã vào dòng Cát-Minh như thế đấy! 
“Lạy Chúa, Chúa ban cho con chan hòa niềm vui, nhờ tất cả mọi việc Chúa làm!”

Tu huynh Jean Joseph Marie de l'Amour Miséricordieux
Đan sĩ Cát-Minh (22 tuổi) 
(CÒN TIẾP)

Tác giả Đỗ Tân Hưng

VII: MỘT TRUYỀN THỐNG - NHIỀU KHUÔN MẶT - 1. ÊLIA, VỊ NGÔN SỨ BỐC LỬA


VII: MỘT TRUYỀN THỐNG - NHIỀU KHUÔN MẶT - 1. ÊLIA, VỊ NGÔN SỨ BỐC LỬA


Hương Vĩnh
 (TIẾP THEO)
Ngay từ thuở ban đầu ở Đất Thánh, dòng Cát-Minh đã nhìn nhận ngôn sứ Êlia là vị Thủ lãnh về mặt tinh thần, là vị Tổ Phụ. Lý tưởng của ngài là lý tưởng của đan viện: chiêm niệm và nhiệt tình tông đồ.

Êlia bốc lửa 
Tiếng kêu tự tâm hồn ngôn sứ Êlia hiện vẫn còn khắc ghi trên huy hiệu của Đan Viện Cát-Minh: "Thiên Chúa hằng sống là Đấng tôi luôn chầu hầu trước mặt Ngài!” Tôi hằng phủ phục trong tôn thờ cầu khẩn, hay ngồi xuống trên hai gót chân mà say mê ngắm nhìn Ngài: Lạy Đức Giavê, Đấng Cao Cả, Toàn Năng.  
Thế nhưng giữa lúc đang suy niệm, Êlia chợt bốc thành lửa: "Bấy giờ ngôn sứ Êlia đứng lên như một ngọn lửa phừng phừng, lời ông rực cháy như một ngọn đuốc” (Hc 48, 1) và những hành động nhiệt thành của ông làm rạng rỡ vinh quang Thiên Chúa. “Lửa đã từ trời xuống trên hy lễ của ông, thiêu rụi tất cả, trước mặt các ngôn sứ giả hiệu và đám thần Ba-an vô tích sự của họ” (1V 17, 9 -17).

Ngồi xuống, đứng lên.  
Đó là “nhịp kép” của đan sĩ Cát-Minh. Ngồi xuống để chiêm niệm, để lòng được tràn đầy Thiên Chúa, để bắt lửa trong Tình yêu. Đứng lên để tuôn tràn, để mang Tin Mừng Cứu Độ đến cho thế giới vô tín và lạnh lùng.  
Ngồi xuống như Đức Mẹ Maria ở Na-da-rét. Mẹ đã đón nhận Ngôi Lời của Chúa Cha vào lòng, nhưng rồi bất chợt, cả Mẹ nữa, Mẹ cũng đã đứng lên và "hối hả ra đi" viếng thăm người chị họ để chia sẻ hồng ân Thiên Chúa, để thánh hoá cả Gioan, Giacaria và Élisabeth trong niềm vui rộn rã.  
Ngồi xuống như các tông đồ ở phòng tiệc ly, cùng cầu nguyện với Đức Mẹ, rồi thình lình "Thánh Thần đến, với những lưỡi lửa, cuồng phong, phép rửa bằng lửa. Họ được đầy tràn Chúa Thánh Thần (Cv 2,2)”, họ đã đứng lên và khởi đầu sứ vụ ra đi truyền giáo cho thế giới mãi đến tận cùng địa cầu và tới thời cánh chung.

Cầu nguyện thiết tha 
Điều gây ấn tượng nơi ngôn sứ Êlia, chính là lời cầu nguyện của ngài thật mạnh mẽ và lòng tin của ngài thật tuyệt đối, cho nên thánh Giacôbê mới đưa ngài lên làm gương mẫu cầu nguyện: "Lời cầu xin thiết tha của người công chính rất có hiệu năng. Ngôn sứ Êlia xưa cũng là người như chúng ta; ngài đã tha thiết cầu xin cho đừng có mưa, thì đã không có mưa xuống trên mặt đất suốt ba năm sáu tháng. Rồi ngài lại cầu xin, trời liền mưa xuống và đất đã trổ sinh hoa trái." (Gc 5, 16-18).  
Nối bước Êlia, Đan Viện Cát-Minh phải chuyển cầu cho thế giới và nâng thế giới "đứng lên" (Têrêxa Lisieux). Đan viện có trách nhiệm giữ cho tinh thần cầu nguyện luôn cháy nóng như một ngọn lửa trong Giáo Hội (Đức Giáo Hoàng Lêô XIII).

Vượt qua sa mạc 
Một điều khác cũng gây ấn tượng nơi ngôn sứ Êlia, đó là ngài đã vượt qua sa mạc. Quả là một cuộc chạy ráo riết để thoát khỏi đám kỵ binh của Jézabel gian ác đang săn đuổi ngài lúc bấy giờ. Có lúc người khổng lồ ấy đã kiệt sức, phơi bày cả nỗi yếu đuối và tuyệt vọng của mình. (Đó là lúc ngài thật gần gũi với chúng ta).  
Thế nhưng thần sứ Thiên Chúa đã đến tiếp tế cho ngài bánh và nước để sống. Ngài lại lên đường đến Horeb và đã được gặp Thiên Chúa ở đó, không phải trong những chấn động mãnh liệt của lửa, của động đất, nhưng trong cơn gió nhẹ thoảng qua, trong thinh lặng của tâm hồn và vạn vật.  
Các môn đệ của Êlia phải luôn thính tai sáng lòng nghe ngóng, để kịp thời nhận ra trong thinh lặng và cô tịch những bước chân nhẹ nhàng của Thiên Chúa đi qua, những lần gặp gỡ sâu sắc tăng cường sức lực cho người tông đồ, và lại đẩy họ lên đường đến với những anh em loài người của họ. 
Kinh Thánh không nói đến cái chết của ngôn sứ Êlia. Những con ngựa lửa kéo chiếc xe lửa đã mang ngài đi. Người Ả rập bảo Êlia là “con người xanh tươi". Ngọn lửa của ngài vẫn còn tiếp tục bừng cháy trong tâm hồn một Têrêxa của Chúa Giêsu, một Gioan Thánh Giá, một Têrêxa bé nhỏ, và của bao người khác. 
Ngài tiếp tục hét lên cho các tâm hồn ngày nay: “Nếu Chúa quả là Thiên Chúa đích thực, là Đấng Toàn Thể độc nhất, thì anh em hãy theo Ngài. Anh em còn đi khập khiễng hai chân cho đến bao giờ? Còn ngập ngừng cho đến bao giờ giữa Đấng là sung mãn, hạnh phúc, chân lý, tức là Đức Kitô Con Thiên Chúa thực sự phục sinh, Đấng hằng sống muôn đời, và các thần tượng rỗng tuếch: tiền bạc, chức quyền, tình dục, các lạc thú lừa dối. Tại sao lại chạy theo điều dối trá, đuổi bắt cái hư vô?" 
“Hỡi các tâm hồn được gọi để nhìn thấy Thiên Chúa và chiếm hữu Đấng vô biên, các bạn đùa vui với những gì? Những cao vọng của các bạn thật khốn cùng, những ước mơ của các bạn chỉ là bọt xà phòng và cát bụi” (theo lời Gioan Thánh Giá).  
Đấng tôi đã được chiêm ngưỡng trên núi Tabor, đang đến mang lửa tình yêu xuống trần gian, để cho thế giới phải bùng cháy lên. Nếu không, biết bao người sẽ chết vì cóng lạnh. 
Tu huynh Jean Marie Gonin
Đan-sĩ Carmel 
(CÒN TIẾP)

Tác giả Đỗ Tân Hưng