Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyền Giáo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyền Giáo. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 26 tháng 9, 2011

Giáo Hội trên cánh đồng truyền giáo

 

Trong bài „ Vài việc cần nhấn mạnh trong việc truyền giáo“ đức Cha GB. Bùi Tuần nói đến ba điểm nền tảng cho truyền giáo. Hay đúng hơn về đời sống cùng nội dung bản chất người đi ra làm việc truyền giáo: Ðiểm Khởi hành, điểm căn bản phải bám vào và điểm dấu chỉ.

Những suy tư thao thức. Phải, những hướng dẫn đóng góp cụ thể của đức cha GB. Bùi Tuần, có tích cách ngôn sứ đó, có lẽ cũng là những thao thức, thắc mắc vẫn luôn bao trùm trong đời sống Giáo hội xưa nay. Và nhất là nơi các người có trách vụ huấn luyện những người trở thành nhà truyền giáo cho Giáo hội Chúa Giêsu hôm qua, hôm nay và ngày mai!

Về phía người muốn, hay đang tìm hiểu để đi làm việc truyền giáo cũng không dễ dàng nhận ra, hay nói được là mình có ơn kêu gọi hay không có ơn kêu gọi.

Ơn kêu gọi là một tiếng gọi linh thiêng thôi thúc, vang lên tự tận thâm sâu của tâm hồn con người. Nhưng không vì thế, mà có thể nói nó bâng quơ vô hình vô sắc vô thanh. Trái lại, nó có điểm bám nơi con người. Nó có thể nhận diện đặt tên tuổi được.

1. Điểm khởi hành: ơn Gọi đi tu

Xưa nay trong Giáo Hội, hễ nói đến Ơn Gọi, ơn thiên triệu là nghĩ ngay đến đi tu hoặc làm linh mục, hoặc làm tu sĩ trong nhà Dòng nữ hay nam.

Nói đến đi tu, người lớn bậc ông bà, cha mẹ, nhất là người Công giáo Việtnam, thích ngay và mong muốn cho con cháu mình đi vào sống con đường ơn Gọi tu trì.

Nhưng nơi người Trẻ, thời buổi ngày nay - hình như ngày xưa cũng vậy! - thì lại khác. Lúc còn thơ bé, nếu cha mẹ hỏi em: sau này con có muốn đi tu, như cha X hay như Dì Phước Y không? Ðứa bé nở nụ cười gật đầu rồi chạy đi chơi!

Ðến khi lớn khôn, nhất là từ lứa tuổi vỡ tiếng dậy thì, bạn trẻ nữ cũng như nam, hầu hết đều nói với vẻ ái ngại: Con không biết nữa!

Hay có bạn bạo dạn hơn nói ngay: Thôi, không thích đi tu đâu! Ði tu chán lắm!

Nếu thử tìm lý do tại sao Bạn Trẻ lại ái ngại không thích theo Ơn Gọi đi tu, có lẽ sẽ không thể nào kể ra hết được. Vì nó đa dạng.

Nhưng những lý do tại sao bạn trẻ theo ơn gọi đi tu cũng đa dạng hấp dẫn không kém!

2. Điểm căn bản: Hãy đứng dậy.

Ngay từ khi còn thơ bé, ai cũng cần lời an ủi thúc đẩy cỗ võ tinh thần, cố tiến lên xắn tay áo bắt tay vào việc. Người trẻ lứa tuổi thanh thiếu niên có nhiều mơ tưởng ước vọng tốt đẹp. Nhưng họ cũng có nhiều do dự ngại ngùng.

Những do dự ngại ngùng làm họ chùn bước, nhất là khi họ phải đối diện với một bên là tiếng Gọi đi làm việc truyền giáo cho niềm tin đạo giáo, một bên là cám dỗ chống lại hay một mời gọi nào sống dễ dãi thích thú hơn…

Ðức cố Giáo hoàng Gioan Phaolo đệ nhị, vị giáo hoàng của giới trẻ ngày nay đã tâm tình cùng họ: „ Tin Mừng Thánh Luca tả lại một cảnh gặp gỡ: Phía đàng bên kia là một đám tang. Người ta đang rước quan tài con trai của một góa phụ ra nghĩa trang. Một bên khác ngược chiều có Chúa Giêsu đang đi với các Tông đồ. Họ đang nghe Chúa Giêsu nói truyện…

Cha nghĩ, ngày nay cũng có đám tang như như vậy dọc đường, như ngày xưa ở đường phố bên Na-im. Ðó là trường hợp:

Khi các con lâm vào cảnh thất vọng, hồ nghi.

Khi các con bị chói lòa bởi những hình ảnh ảo tưởng của một xã hội tiêu thụ lôi cuốn vào con đường xa sự tốt lành chân thật, mà đi theo con đường xấu xa tội lỗi.

Khi những khuyến dụ nổi lên trong các con: tất cả đều đồng dạng, đều chỉ là bề mặt trôi nổi. Vì những sự xấu xa tội lỗi và đau khổ trong thế giới làm các con hồ nghi tình yêu thương và sự hiện diện của Chúa giữa con người.

Khi các con luôn hằng khao khát mong chờ đi tìm nguồn suối nước làm thỏa mãn cơn khát từ trong tâm hồn và một tình yêu chân chính trong lành. Nhưng các con lại không tìm gặp được. Vì những cảm giác hỗn độn nổi lên trong đời sống ngăn cản các con.

Chính trong giây phút đó Chúa Giêsu đến với mỗi người các con, như Người ngày xưa đã đến với người thanh niên thành Na-im. Ngài nói với các con lời thúc đẩy đánh thức: Hãy đứng dậy!

Cha mời gọi các con tiếp nhận lời mời gọi này, như lời thúc dục phấn chấn tinh thần đời sống các con!“ (Cùng các Bạn Trẻ ở Bern, Thụy sĩ, Expo 2004)

3. Điểm dấu chỉ

3.1. Nhận ra ơn Gọi của mình

Hai Bạn Trẻ nam nữ yêu nhau. Vì họ bắt gặp được tần số làn sóng của nhau.

Với ơn Gọi từ trời cao cũng thế.

Nhiều bạn đã đọc tìm ra ơn Gọi tu trì qua sự giáo dục trong gia đình, qua gương sáng sống đạo đức tình người của cha mẹ mình, qua gương đời sống của một linh mục, của một nữ tu hay một thầy dòng, mà họ đã gặp gỡ hay cùng trải qua trong đời sống; qua lời nói gợi ý của thầy dậy hay một người nào đó, qua lời kinh câu hát trong nhà thờ, qua cùng sinh hoạt hội đoàn trong xứ đạo, qua một bài báo hay chương sách đã đọc nói về Thiên Chúa về con người, về lòng bác ái vị tha của những vị Thánh cao cả, hay của những người có lòng xả kỷ hy sinh đời sống cho con người đau khổ bất hạnh…

Làn sóng Tiếng Gọi của Chúa từ trời cao rất đa dạng, và luôn hằng phát tỏa đến mọi tâm hồn sẵn sàng đáp trả: Vâng con đây. Xin Chúa cứ nói!

Ðức cố Giáo hoàng Gioan Phaolô đã tâm tình cùng các Bạn Trẻ về nhận ra Ơn Gọi như sau:

„ Các con đừng ngần ngại đáp trả lại tiếng Chúa gọi! Ngài đang chờ đợi câu trả lời của các con. Trong sách Xuất hành (Xh 3,1-6,9) nói về việc Thiên Chúa kêu gọi, trước hết Ngài thức tỉnh lòng con người, Ngài đang có mặt giữa bụi gai đang cháy rực.

Nếu chúng ta khởi sự chỉ cho Ngài ý thích của chúng ta, Ngài sẽ gọi chúng ta đích danh.

Nếu câu trả lời của chúng ta chắc chắn qủa quyết, như ngày xưa Mose đã nói với Thiên Chúa: Này con đây! (XH 3,4), Ngài sẽ nói chỉ cho rõ ràng hơn, như ngày xưa Ngài đã nói với Mose về hoàn cảnh thương tâm, về tình yêu của Ngài với dân Do Thái đang lâm vào hòan cảnh khốn khó hoạn nạn.

Dần dần Ngài sẽ soi lòng mở trí chúng ta khám phá ra cách này cách khác tiếng gọi của Ngài: Cha muốn sai con đi!

Thông thường sự lo âu sợ hãi làm đời sống trở nên bất an và gây khó khăn cho quyết định nghe theo tiếng Ngài gọi. Những khi gặp như thế, các con nhớ tới lời hứa của Chúa: „Con đừng sợ!Cha luôn hằng cùng đồng hành bên con.“ (Xh 3,12).

Mỗi Ơn Gọi là một kinh nghiệm của từng cá nhân về lời Chúa hứa: Con đừng sợ! Cha luôn hằng cùng đồng hành bên con“. Những lời này thấm nhập và tạo niềm xác tín vào tận tâm hồn mỗi người. Với cha, lời này có sức mạnh lôi cuốn thuyết phục đời cha rất nhiều.

Như chúng ta thấy đó, mỗi Ơn Gọi làm tông đồ cho Chúa nảy sinh từ lòng tin tưởng vào lời của Chúa và bao gồm việc sai đi để loan báo lời Chúa.

Có những người đã biết ngôn ngữ của Tin mừng. Có những người chưa biết đến ngôn ngữ đó. Như trường hợp ngôn ngữ Ơn gọi làm tông đồ thừa sai. Lời Chúa với một số người còn xa lạ. Vì họ chưa nghe nói đến bao giờ. Ðó là điều có thể khó khăn. Nhưng người đi làm việc Tông đồ truyền giáo biết rằng, họ không một mình. Lời Chúa hứa với họ: „ Cha luôn hằng cùng đồng hành bên con“.

Cha cầu nguyện hằng ngày cho các Bạn trẻ Công giáo trên thế giới biết lắng nghe tiếng Chúa kêu Gọi, và sẵn sàng trả lời, như lời trong Thánh vịnh: Lạy Chúa, số mạng con chính Ngài nắm giữ. ..Con luôn nhớ có Chúa trước mặt, được Ngài ở bên, chẳng nao núng bao giờ“ (Tv 16, 5.8.)“ (Bài giảng với giới trẻ ở Manila 1995)

3.2. Ơn Gọi đi tu nhà Dòng

Ðời sống có ý nghĩa gì? Có một khuôn mẫu nào cho đời sống không?

Các Bạn Trẻ cũng đã có lần nghe nói hoặc đã từng nói chuyện với một Nữ Tu hay một cha dòng mang áo dòng nâu, đen hay trắng nào đó…Tôi chắc qua cuộc gặp gỡ với những người tu trì như thế, các Bạn cũng có thể đã suy nghĩ về câu hỏi ở trên.

Các Nữ tu hay các Nam tu sĩ là những người nghe theo tiếng Gọi vào sống chung trong một nhà Dòng, như Dòng Ðaminh, Dòng Phan-xi-cô, Dòng Tên, Dòng lo việc truyền giáo, Dòng Mến Thánh Gía, Dòng Ursuline, Dòng Nữ tử Bác ái Thánh Vinh-Sơn, dòng Ngôi Lời…

Nhà Dòng là gia đình của họ. Họ dấn thân suốt đời cho nhà Dòng. Và nhà Dòng lo cho cuộc sống của họ lúc còn sống cũng như lúc qua đời; lúc khoẻ mạnh còn trẻ, cũng như lúc yếu đau tuổi gìa. Họ sống theo tôn chỉ:

- Ðời sống khó nghè : mọi sự là của chung

- Nếp sống vâng lời trung thành với nhà Dòng : không theo ý riêng mình,

- Và đời sống thanh tịnh không lập gia đình : nhà Dòng là gia đình của mình.

là khuôn mẫu cho đời sống. Khuôn mẫu đời sống đó lẽ dĩ nhiên đặt trên nền tảng tình yêu Thiên Chúa và tha nhân.

Với nhiều Bạn Trẻ đó là lý tưởng!

Ðúng vậy. Nhưng đó là điều hiện thực đã có từ hàng mấy trăm năm nay trong đời sống Giáo hội công giáo khắp nơi trên thế giới.

Với nhiều Bạn Trẻ đó cũng là điều khó và có vẻ xa lạ cao vời!

Chính như vậy. Nhưng không phải là điều không có thể không làm được. Vì từ ngàn năm nay trong Giáo Hội luôn có những tâm hồn quảng đại nghe theo tiếng gọi, sống dân thân trong các nhà Dòng tu viện. Và các nhà Dòng có cuộc sống phát triển không những chỉ về mặt đạo đức tâm linh. Nhưng còn cả trong lãnh vực văn hóa nghệ thuật, khoa học, giáo dục học đường, bác ái lo con người, tới mức cao vượt được kính trọng nổi tiếng trong xã hội, như Dòng Tên, Dòng Ðaminh, Dòng Thánh Benedicto, Dòng Bác ái thừa sai của Mẹ Á Thánh Terexa…

Phải chăng những người như thế sống trong mơ tưởng xa rời thực tế đời sống ?

Không phải thế đâu. Dám mơ ước sống dấn thân về một đời sống xa lạ cao vời không là hoang đường tưởng tượng. Nhưng là lối sống hướng về ngày mai, về điều tốt đẹp ngay lành trong sáng. Họ kiên nhẫn nỗ lực hy sinh với tâm hồn vui tươi rộng mở mong đạt được điều trông chờ như tiếng Gọi hối thúc họ. Và điều đó không thể đạt được bằng sức mạnh, bằng tài năng trí tuệ, nhưng bằng tinh thần đơn sơ chân thành!

David Ben Gurion tâm sự: » Người nào không tin vào điều lạ thường, họ không biết đến thực tại! ».

3.3. Một hình ảnh ơn gọi linh mục sống giữa dòng đời 

Thiên Chúa khi kêu gọi Tiên Tri Giêrêmia đã nói với Ông: Con đừng nói, con còn trẻ! Cha sai con đi đâu, con cứ đi; Cha bảo con nói gì, con cứ nói. Con đừng sợ, vì Cha hằng ở cùng con để cứu giúp con ( Gr 1, 7) Làm việc cho niềm tin và cùng sống niềm tin là bổn phận căn bản. Nhưng để thực hành bổn phận đó, linh mục cần đến sự cộng tác tiếp tay của người mọi người. Linh mục không sống thay niềm tin cho ai, và cũng không thể bắt người khác sống như mình được. Hình ảnh mà tôi thấy sống động cùng nói lên được ý nghĩa đời sống linh mục là hình ảnh bác tài xế lái xe buýt.

Bác tài xế lái xe buýt chuyên chở hành khác từ trạm này đến trạm khác. Bác có trách nhiệm giữ cho xe được an toàn. Và xe dành cho mọi người. Bác lái xe đưa họ đi đến bệnh viện, ra chợ, đi nhà thờ, đến trường học, đến công viên vườn chơi giải trí, đưa đi du lịch tham quan thắng cảnh, rồi đưa họ trở về nhà.

Họ cần bác và bác làm công việc cùng đồng hành đó với niềm vui.

Linh mục cũng thế. Trong Hội Thánh nơi các xứ đạo, các giáo đoàn ông là người được tín nhiệm trao cho nhiệm vụ cùng dân Thiên Chúa sống làm nhân chứng niềm tin tình yêu của Chúa. Ông cùng đồng hành với mọi người muốn đến với niềm tin vào Thiên Chúa.

Khi họ có tâm sự vui buồn thắc mắc. Họ đến với ông. Và ông là người lắng nghe họ.

Khi họ cần đến sự trợ giúp của Chúa qua dấu chỉ của các phép Bí Tích. Ông là người được Chúa và Hội Thánh uỷ thác ban cho họ.

Khi họ cần lời an ủi cho tâm hồn. Ông là người bạn nói chuyện với họ.

Người tín hữu có niềm tin vào Thiên Chúa. Nhưng họ cần linh mục, là người hướng dẫn và cùng sống thực hành niềm tin với. Như Bác tài xế chạy xe từ trạm này tới trạm khác đón khách và đổ khách. Linh mục đón tiếp và tìm đến thăm nom người cần đến lời an ủi trợ giúp, không phân biệt giầu nghèo, sang hèn lớn bé, trẻ con người lớn, nam hay nữ, bệnh tật hay khoẻ mạnh.Và sự hiện diện của ông giữa dân chúng là dấu chứng của niềm tin: Thiên Chúa hằng cùng đồng hành với con người. Tôi không dám nói tất cả các linh mục từ ngày lãnh chức linh mục là đã đỗ “Bằng lái xe buýt” như các bác tài xế xe buýt đâu. Nhưng niềm tin, tâm hồn rộng mở, lòng phấn khởi trung thành sống cho niềm tin,và sẵn sàng cùng đồng hành với những người đi tìm niềm tin nơi linh mục, có khác chi “Bằng lái xe buýt” của một bác tài xế đâu! Xe buýt khi chạy cần phải có xăng nhớt. Bác tài xế hằng canh chừng để xe lúc nào cũng có đủ xăng nhớt cần thiết. Sự trợ giúp của Thiên Chúa là “dầu xăng” cho niềm tin của chính linh mục và cho mọi người. Đó là đời sống liên kết hiệp thông với Đấng là nguồn sự sống, để đổ xăng dầu cho tâm hồn. Tôi không dám nói linh mục là người phải có năng khiếu thu hút quần chúng. Nhưng một linh mục có được, do Chúa ban cho, khả năng có sức lôi cuốn tập họp mọi người lại. Nhất là gây được hào khí niềm vui phấn khởi nơi các người trẻ, trong các buổi lễ nghi thờ phượng Chúa, cắt nghĩa về giáo lý đức tin, là điều tốt, hữu ích và rất đáng quý chuộng.

Mỗi người đều được Thiên Chúa dựng nên và ban cho một khả năng đặc biệt, không ai giống ai. Đó là tài nguyên quý báu tiềm tàng nơi mỗi người. Tài nguyên này cần phải được khuyến khích đem ra sử dụng vào công việc trình bày tin mừng của Chúa, và thu tập con người về với đạo giáo niềm tin. Linh mục không phải là Thiên Thần, cũng không phải là siêu nhân, và cũng không thuộc vào hàng khanh tướng sang trọng thần thánh, như người ta vẫn lầm tưởng và thêu dệt ca hát tung hô trong các bài hát quen thuộc, nhất là ở bên quê nhà Việtnam vào thời kỳ những thập niên năm 50., 60.70. của thế kỷ trước.

Không, ông vẫn còn là con người với sở trường và sở đoản, với mặt nhân đức và mặt yếu đuối tội lỗi.

Ông vẫn còn là con người bất toàn về mọi mặt. Chính điểm yếu đuối tội lỗi của con người ông làm nên một phần nhân cách sự sống đời ông. Vì xưa nay có ai là con người hoàn toàn đâu.

Đời ông có niềm vui hạnh phúc và mang được niềm vui hạnh phúc đến cho người khác, khi chính cuộc sống niềm tin vào Thiên Chúa của ông không trở thành xa lạ. Nhưng là nhân chứng cho niềm tin và cùng đồng hành với mọi người.

Ở những xứ truyền giáo, như Mẹ Giáo Hội ở Việtnam, các giám mục, các linh mục. các Tu sĩ nam nữ, không chỉ có bổn phận chính là lo gìn giữ lửa thiêng liêng đức tin vào Chúa, xây dựng ngôi nhà đức tin trong tâm hồn người tín hữu Chúa Giêsu Kitô trong xứ đạo, trong nhà Dòng. Nhưng các ngài còn có lo lắng việc xây dựng Thánh đường, nhà Dòng, chủng viện, nhà giáo lý chung, nhà giữ xương tro người qúa cố, nhà mồ côi, có nơi cả cất nhà giúp cho người nghèo nữa...

Những công việc này góp phần rất lớn vào việc sống đức tin, việc nối lửa cho đời, cùng góp phần vào việc xây dựng hội nhập văn hóa dân tộc.

Những việc này thật đáng hoan nghênh. Xin ngả mũ cúi chào nói lên tâm tình cám ơn và cùng chung tay góp sức vào.

3.4. Một vài chứng từ về ơn Gọi ra đi làm thợ trên cánh đồng truyền giáo.

1. Bạn Peter Rieve, người Ðức

Trong cuộc gặp gỡ các giám mục, linh mục, chủng sinh thần học, dịp Ðại Hội Giới Trẻ thế giới ngày 19.08.2005 ở Köln với đức thánh cha Benedicto 16., bạn Peter Rieve, một ứng sinh linh mục, đã thố lộ tâm tình về bước đường ơn Gọi của mình:

“….Tôi là một thanh niên lớn lên trong một xứ đạo có những sinh hoạt sầm uất. Tôi ngay từ nhỏ đã là một cậu giúp lễ, rồi vào ca đoàn nhà thờ hát lễ, tham gia sinh hoạt thanh thiếu niên ở xứ đạo. Bây giờ tôi đang là sinh viên ứng sinh linh mục theo học thần học ở tổng giáo phận Köln…Trước khi học ra trường trung học với bằng Tú tài, tôi đã có nghĩ đến ơn Gọi làm việc cho đạo giáo niềm tin. Nhưng lúc đó tôi không thể quyết định theo con đường ơn Gọi làm linh mục đó được. Tôi đã vào đại học theo học ngành kỹ sư và đã tốt nghiệp thành công cấp bậc Tiến sĩ. Tôi vào làm việc đúng ngành nghề chuyên môn là một kỹ sư và dần dần tôi cùng với một người bạn khác thành lập một hãng xưởng riêng. Công việc hãng xưởng trôi chảy. Thời gian làm việc kể là thành công kéo dài trên dưới 10 năm trời.

Càng ngày tôi càng suy nghĩ về đời sống mình và thêm thắc mắc nghi vấn về con đường tôi đang đi: Tôi sống làm việc như thế này để cho ai, cho đích điểm gì? Thiên Chúa muốn gì nơi đời sống tôi? Những câu thắc mắc này luôn luôn quay đi trở lại trong tâm trí tôi. Và càng ngày tôi càng cảm nhận ra chút ánh sáng ý Thiên Chúa muốn gì nơi tôi. Phải chăng Ngài muốn cho tôi một con đường sống khác!

Và dần dần với thời gian con đường ơn Gọi từ từ mở ra cho tôi!

Nhưng dẫu vậy thắc mắc khác lại đến xâm chiếm tâm trí tôi: Bây giờ bỏ nghề nghiệp đang kiếm ra nhiều tiền bạc, danh vọng, có bảo đảm lúc này và sau này, để bước sang con đường sống mới, để bắc nhịp cầu mới khác…như thế có đúng, hợp tình hợp lý không?

Với ân đức của Thiên Chúa, tôi đã tìm thấy câu trả lời cho mình. Và từ hai năm nay tôi trở thành ứng sinh linh mục của tổng giáo phận Köln. Lòng tin tưởng vào Chúa dẫn đường đồng hành trong đời sống giúp tôi can đảm và niềm vui dấn thân cho Ơn Gọi.”

Chín chắn, xác tín và can đảm hơn, tưởng ít có tâm hồn như vậy!

2. Cha sở Felix

Cũng trong dịp gặp gỡ ở Köln, ngày 19.08.2005, linh mục Felix, một cha sở bên nước Kasachtan thuộc Liên bang xô Viết cũ, đã nói về ơn Gọi trở thành linh mục của mình:

“ Kính thưa đức thánh cha,

Con là một linh mục sinh ra lớn lên ở vùng nhà quê đất nước Kasachtan. Ðức tin vào Thiên Chúa do cha mẹ, ông bà của con đã gieo trồng, ghi khắc đậm nét nơi con, trong thời kỳ khó khăn bị theo dõi, nếu sống trung thành theo niềm tin vào Chúa Giêsu Kitô và vào Hội Thánh Công giáo.

Khi con còn nhỏ. Bà nội con đã dậy con cách cầu nguyện cùng Chúa Giêsu Kitô. Ở nhà con học kinh, học cầu nguyện. Nhưng đi đến trường học, con bị mất niềm tin vào Chúa. Vào thời kỳ cộng sản liên bang sô-viết người ta hỏi con: Bà nội con đã học mấy năm ở trường học? Con trả lời là hai năm.

Họ nói với con: Nghe đây bạn nhỏ, bây giờ bạn học nhiều năm hơn bà nội của bạn rồi. Bạn bỏ cách xa bà nội bạn rất nhiều. Bạn biết nhiều hơn bà nội và như vậy bạn không cần phải tin vào Thiên Chúa làm chi nữa!”

Sự độc đoán đó đã phá hủy đức tin của con. Con lớn dần trong thế giới thành người vô thần. Con đã trở thành người lính trong quân đội Sô viết. Trong thời gian này con nhìn thấy nhiều cảnh đè nén bất công, không còn biết đếm xỉa, để ý gì đến con người ngay giữa những bạn lính đồng đội với nhau...

Con buồn và thất vọng. Từ lúc đó con bắt đầu suy nghĩ về đời sống của mình.

Nhân ngày về thăm nhà, gặp lại cha mẹ ông bà. Con kể cho ông bà nội nghe những gì con thấy và những gì con suy nghĩ. Bà nội con nhìn con nói: Con ơi, con phải bắt đầu cầu nguyện lại đi thôi! Thiên Chúa tình yêu sẽ giúp con”.

Những lời chân thành đó của bà nội con khác nào như một ân đức giúp soi sáng tâm trí con lúc đó. Con bắt đầu viết lại kinh Lạy Cha, kinh Kính mừng Maria học thuộc lòng và cùng cầu nguyện với bà nội con.

Trở về đơn vị làm nhiệm vụ. Nhưng lúc nào con cũng đọc nhẩm lại những lời kinh đó. Và từ từ con cảm nghiệm tận trong thâm tâm sự hiện diện của Chúa bên con, rồi có tiếng thì thầm trong tâm hồn con: Hãy tin tưởng nơi Cha!

Sau khi mãn hạn đi lính, con trở về nhà bằng an. Từ lúc đó con cầu nguyện lần chuỗi mân côi nhiều và bắt đầu đọc sách Kinh Thánh. Ðức tin của con vào Thiên Chúa được củng cố thêm và sau hai năm con đã tìm thấy Ơn Gọi con đường làm linh mục…”

Chân thành đơn sơ, tràn đầy lòng khiêm cung và chan chứa lòng tin tưởng như cha sở Felix, thật hiếm có!

3. Ðức Thánh Cha Benedicto XVI. của chúng ta

Ngày 19.04.2005 sau khi được chọn bầu là Giáo hoàng của Giáo hội, đức thánh cha mới Benedicto 16. bước ra bao lơn cửa sổ đền thờ Thánh Phero chào mừng tòan dân Thiên Chúa:

“Anh chị em thân mến,

Sau vị Giáo Hoàng Gioan Phaolô II vĩ đại của chúng ta, các đức Hồng Y đã chọn tôi, một người thợ làm công khiêm hạ trong vườn nho của Thiên Chúa.

Tôi xác tín, Thiên Chúa biết rõ phải làm như thế nào và phải hành động như thế nào, ngay cả khi thiếu thốn những dụng cụ. Và tôi đặc biệt tin tưởng vào những lời cầu nguyện của anh chị em. Trong niềm vui của Chúa Phục Sinh, và với niềm tin tưởng vào vào sự giúp đỡ muôn đời của Ngài, chúng ta hãy tiến bước, hãy chắc chắn rằng Thiên Chúa sẽ trợ giúp. Và Ðức Maria, Mẹ dấu yêu của Ngài, luôn đứng bên cạnh chúng ta. Xin chân thành Cám ơn tất cả anh chị em."

Tràn đầy tâm tình tin tưởng đạo đức và chân thành chí thiết tình người hơn, khi nói về ơn Gọi của mình như thế, tưởng khó có thể diễn tả hơn được nữa, như đức Thánh cha Benedicto XVI. của chúng ta.

Mẹ Giáo Hội được Chúa thành lập sống làm chứng cho Ngài giữa trần gian với và cho con người. Mỗi thời đại, mỗi nơi khung cảnh xã hội địa lý, mỗi nền văn hóa dân tộc, có những thách đố đòi hỏi riêng.

Những thách đố đòi hỏi đó giúp Giáo Hội sống thích nghi, phát triển vươn lên, và cùng giúp cộng đoàn dân Chúa trên cánh đồng rao truyền Tin mừng. 



LM. Nguyễn Ngọc Long6/9/2007

Tinh Thần Truyền Giáo



E-mailPrint
Người ta thường nói tinh thần đức tin, tinh thần tông đồ, tinh thần truyền giáo. Tinh thần là cái gì ẩn giấu bên trong, bên ngoài chỉ nghe nói mà không thấy được. Chúng ta biết người này người kia có tinh thần. Tinh thần của người ấy biểu lộ ra bên ngoài bằng các việc làm. Ta chỉ trông thấy việc làm, còn tinh thần của người ấy ta không thấy.
1. Tinh thần là sức sống bên trong
Tinh thần là sức sống bên trong phát xuất ra bên ngoài qua các hành động. Nó là động lực, là cái hồn ở trong con người, linh hoạt mọi tư tưởng và việc làm của người ấy. Người có tinh thần là người đáng nể. Muốn là người đáng nể thì phải rèn luyện tinh thần, đem tinh thần vào trong công việc và đời sống. Người có tinh thần thì làm việc đến nơi đến chốn, không hời hợt, luôn sửa soạn trước cho công việc được chu đáo. Người có tinh thần làm cho người khác được yên tâm vì tính nghiêm túc và cẩn thận của mình.
Nay áp dụng vào công việc tông đồ thì tinh thần truyền giáo là gì? Thưa là hết lòng hết sức với công việc rao truyền lời Chúa, gây dựng Giáo hội ở nơi nào chưa có, hay đã có mà ngả nghiêng, xiêu vẹo, như các nhà truyền giáo vẫn làm từ trước đến nay. Các vị đó đã để hết tâm lực vào công việc này khiến cho có thể nói cuộc đời của các vị tập trung và thu gọn lại trong đó.
Mới đây, tình cờ tôi có gặp một linh mục dòng Chúa Cứu Thế trẻ, mới chịu chức được vài năm nay. Hiện linh mục này đang làm việc cho người Thượng trên vùng Đà lạt. Ông đã nói chuyện say sưa với tôi về những công việc ông đã làm và đang làm cho những người này. Tôi thấy trong ông như có một ngọn lửa. Chính ngọn lửa ấy đã đốt cháy cuộc đời ông, không phải cháy tiêu tan mà cháy bừng lên ngọn lửa hy sinh nhiệt thành cho công việc. Bên cạnh đó là lòng tin vào sức mạnh phù trì của Chúa.
Ban đầu, người ta không cho ông ở với dân. Mỗi lần đi lễ, dân kéo cả làng đi và phải đi bộ 6 tiếng mới tới nơi hành lễ. Như vậy, mỗi lần đi lễ phải mất cả một ngày. Về sau, nhà nước thấy dân đi đông như thế rất khó kiểm soát, nên cuối cùng đã cho ông đến ở giữa dân. Hiện ông đang làm nhà thờ cho họ. Tôi có hỏi ông khi người ta đi lễ, ông có cho họ ăn không. Ông nói có, vì thường họ ở đến hôm sau mới về. Tôi hỏi tiếp: thế lấy tiền đâu ra để nuôi họ. Ông nói: lạ lắm. Không làm thì thôi mà hễ làm thì tiền bạc từ đâu tới không biết nữa, chỉ thấy người thì cho tiền, người cho quần áo, người cho gạo. Ngay cả việc làm nhà thờ hiện nay cũng thế. Cứ làm rồi có người giúp. Như thế có phải là việc Chúa làm không? Mình làm việc cho Chúa thì Chúa lảm việc cho mình. Chính nhờ thế mà nhà truyền giáo thêm tin tưởng và tìm được niềm vui trong công việc của mình.
Một linh mục khác cũng còn trẻ thuộc dòng Đa Minh, bây giờ tự ý bỏ nơi yên ổn đi vào vùng sâu vùng xa trên Buôn Mê Thuột. Ông này cũng đang gặp khó khăn với chính quyền địa phương, nhưng kiên trì ở lại giữa những người Thượng. Lâu dần người ta thấy ông lo cho dân, giúp họ làm nhà, dựng chợ, nên cũng đã cho qua.
Thường chính quyền vốn dị ứng với việc giảng đạo, như mới đây tôi đến xin tạm trú cho một nhóm y bác sĩ đến nhà An hạ tĩnh tâm. Họ là nhóm người thiện nguyện lo giúp cho các bệnh nhân HIV. Một nữ công an hỏi ngay là có giảng đạo không đấy, không được giảng đạo đâu nhé! Tôi bảo người ta đến nghỉ ngơi thư giãn; sau những ngày làm việc mệt mỏi, họ cần ra khỏi thành phố, tìm nơi thoáng mát để thay đổi không khí. Lúc đó họ mới chịu.
Trở lại trường hợp linh mục dòng Chúa Cứu Thế ở trên. Ông cho tôi biết là ông thích việc truyền giáo cho người Thượng ngay từ khi đang ở học viện. Lúc ấy ông đã bắt đầu học tiếng Thượng và tâm trí lúc nào cũng vẩn vơ với công việc này.
Như vậy tinh thần truyền giáo có nghĩa là mối bận tâm suy nghĩ tìm tòi về công việc truyền giáo và luôn hướng lòng về đó mà chuẩn bị cho mình biết chịu khó, tập thích nghi với hoàn cảnh và sẵn sàng để được sai đi.
Cách đây ít hôm có một thầy thuộc Dòng Chúa Thánh Thần đến gặp tôi và tỏ ý lo ngại về ơn gọi của mình. Thầy nói dòng của thầy là dòng truyền giáo. Anh em trong dòng của thầy được huấn luyện để gửi đi làm việc ở nước ngoài. Vì vậy mọi người phải học tiếng Anh ráo riết. Bây giờ thầy đã lớn rồi, việc học ngoại ngữ có phần khó khăn, sức tiếp thu không được nhanh nhạy. Thầy thấy sợ không biết có đáp ứng nổi ơn gọi này không.
Mối lo ngại của thầy là chính đáng. Nó cho thấy một khía cạnh thực tế của ơn gọi truyền giáo. Đó là phải tạo cho mình một khả năng thích ứng. Mối bận tâm lo cho mình có thể thích ứng với ơn gọi cũng là một nét biểu dương tinh thần truyền giáo, nghĩa là tìm hết cách để có thể làm tốt công việc này. Bởi vậy, tinh thần truyền giáo là thích nghi để đáp ứng. Việc thích nghi đòi phải hy sinh luyện tập cho quen với môi trường mình phải sống và ở với những người mình được sai đến. Mới nghĩ thì tự nhiên cũng thấy sợ và ngại. Nhưng với ơn Chúa giúp thì cái sợ cái ngại kia lại có thể trở thành niềm vui và một sự hấp dẫn: vui vì có dịp cho đi cái phần tốt nhất của mình và hấp dẫn vì khám phá ra nhiều điều mới lạ nơi những người mình phục vụ và trong khu vực mình sinh sống.
2. Làm thế nào để gây được tinh thần truyền giáo?
Truyền giáo là một ơn gọi đặc biệt. Muốn đáp ứng ơn gọi này, phải có tinh thần. Tinh thần này có được là do cầu xin và tập luyện.
2.1 Cầu xin
Hàng ngày nhà truyền giáo phải cầu xin cho mình có khả năng nuôi dưỡng và giữ được ơn gọi truyền giáo. Đi truyền giáo là thi hành và đáp lại lệnh truyền của Chúa: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép Rửa cho họ, nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em.” (Mt 24,19). Ơn gọi và nhiệm vụ này không dễ thực thi, nếu không được ơn Chúa phù trì. Vì vậy, ưu tiên số một là cầu xin mỗi ngày cho ơn gọi truyền giáo của mình, sao cho ơn này luôn sống động mạnh mẽ, thúc đẩy mình ham mê dấn thân hoạt động, dù gặp khó khăn hay cản trở. Lời cầu nguyện này phải được tỏ bày trong thánh lễ mỗi ngày, trong các sinh hoạt đạo đức hay trong những giờ phút yên lặng mình tự chọn.
2.2 Tập luyện
Ngoài cầu nguyện ra là tập luyện, tập luyện hàng ngày trong giai đoạn đào tạo theo đường hướng tu đức truyền giáo. Tập luyện bằng hai hình thức: lý thuyết và thực hành. Lý thuyết là nền thần học về truyền giáo và thực hành là đi thực tập tại các thí điểm truyền giáo; một đàng thì thấm nhuần lý thuyết, một đàng thì trưởng thành trong thực nghiệm. Tập mãi sẽ quen rồi thành nếp. Khi đã thành nếp thì mọi sự sẽ trở nên dễ dàng hơn lúc ban đầu như trường em bé ở lớp mẫu giáo tập đánh vần hay tập viết chữ. Lúc đầu thật khó khăn cho em nhưng sau một thời gian, em sẽ không còn lúng túng nữa. Vì thế, luyện tập là cần thiết và phải được kiên trì theo đuổi.
Kết luận
Muốn làm hay công việc của mình, người thợ phải yêu nghề và luyện tập cho tay nghề mỗi ngày một cao. Khi đó, người ấy sẽ thành một tay thợ lành nghề. Lành nghề thì làm hay, làm nhanh, làm tốt công việc của mình, tạo ra được những sản phẩm đẹp và bền, làm vừa ý người tiêu dùng. Nhà truyền giáo có tinh thần thì cũng giống như người thợ yêu nghề và lành nghề. Cái lành nghề trong bộ môn của mình là chính niềm vui cho mình và cho người khác: vui cho mình vì thấy mình được việc và vui cho người khác vì họ được nhờ cái thành thạo của mình mà lấy làm ưng ý.
Vậy nhà truyền giáo hiện tại cũng như tương lai nên rèn luyện cho mình một tinh thần truyền giáo và dấn thân theo tinh thần này, để hạt giống Tin Mừng được gieo vãi khắp nơi và nhiều người được đón nhận ơn cứu độ.

Ơn Gọi Truyền Giáo



                            
          Trong một bài viết mới đây - bài Tản mạn về Ơn gọi - tôi đã mạo muội bàn đến vấn đề truyền giáo tại Việt-nam, ghi lại thắc mắc mà Cha An-tôn Nguyễn Ngọc Sơn đã nêu lên trong một bài viết của ngài (x.Ns CG&DT, số 176, tháng 8.2009) : Tại sao tỷ lệ người công giáo so với dân số trong cả nước không thay đổi từ trên một trăm năm nay ? Mới đây, trong bài giảng lễ nhân dịp Đại hội Truyền giáo tại Trung Tâm Mục Vụ Sài-gòn, Đức Cha Phao-lô Bùi Văn Đọc đã nói rằng người Công giáo không mạnh dạn dấn thân rao giảng Tin Mừng cho lương dân bằng anh em Tin lành. Ngài nêu một ví dụ - lấy từ bên Trung quốc - rằng cách đây gần 200  trăm năm, cứ 10.000 người Công giáo mới có một người Tin lành, nhưng nay thì cứ 3 người Tin lành mới có một người Công giáo (nguồn tin Vietcatholic ngày 23/10/2010).
          Từ những điều ghi lại trên đây, tôi xin được tiếp tục bàn về đề tài đang trở nên nóng bỏng trong Giáo hội Việt-nam, khi Đại Hội Dân Chúa đang gần kề.
          Chúng ta gần như ai cũng biết rằng truyền giáo là bản chất của Hội Thánh. Nhưng phải truyền giáo như thế nào mới đạt hiệu quả như lòng Chúa mong muốn ?
          Trong bài giảng của Đức Cha Phao-lô Bùi Văn Đọc trích dẫn trên đây, chúng ta đọc được như thế này ở điểm  6 (trong 8 điểm của toàn bài) :  " Truyền giáo hôm nay phải là giới thiệu, trình bày, minh họa, thuyết phục. Chúng ta giới thiệu Chúa Giêsu cho những người chúng ta gặp. Chúng ta đừng sợ : sự nhút nhát của chúng ta có hậu quả rất lớn. Nhiều người mất cơ hội để biết Chúa. Hãy mạnh dạn như anh em Tin lành. Họ ít bỏ lỡ cơ hội để nói về Chúa". Chắc ai nấy đều đồng tình với ngài về mặt lý thuyết. Nhưng có lẽ chúng ta không quên câu nói của ông Gandi, rằng ông tin đạo của Chúa Ki-tô nhưng không tin người có đạo. Tại sao vậy ? Chuyện kể rằng, vì mến đạo, ông đã tìm đến một nhà thờ của người có đạo. Nhưng khi ông định bước vào nhà thờ thì người có đạo chặn ông lại không cho vào, bởi vì ông là người da màu trong khi họ là người da trắng ! Có lẽ những người có đạo này đã giới thiệu, trình bày, minh họa , nhưng không thuyết phục được người nghe vì họ đã không làm chứng về những điều họ rao giảng.
          Tôi đã đọc được tên trang tin Zenit, câu chuyện về một linh mục người Nhật, khi được gặp Đức Thánh Cha Bênêđitô XVI, thì linh mục đó đã xin ngài khuyên phải làm thế nào để lôi kéo giới trẻ đến với Hội thánh. Có lẽ vị linh mục người Nhật đã rất ngạc nhiên khi không nghe Đức Thánh Cha dạy làm điều này điều nọ - như tạo sân chơi cho người trẻ, như tổ chức những buổi sinh hoạt hoành tráng … - mà lại nghe Vị Cha chung khuyên hãy sống trung thực với chính mình, nghĩa là hãy có sự thống nhất giữa lời rao giảng và hành động của mình, nghĩa là không được để cho ngôn hành  tương phản phản nhau ! Người trẻ đã vậy, thì người ngoại giáo cũng phải vậy, không thể khác được.
          Hai câu chuyện sau đây có thể minh họa cho lời dạy của Đức Giáo Hoàng trên đây.
          Câu chuyện thứ nhất liên quan đến Đức Cố Giám mục Kontum, Đức Cha Phao-lô Seitz (tên Việt là Đức Cha Kim, ngài đã qua đời tại Pháp ngày 24.02.1984). Chuyện kể rằng, trong một chuyến lên Đà-lạt, xe của Đức Cha đang leo đèo Prenn thì gặp một đôi vợ chồng đang loay hoay với chiếc xe của họ bị trục trặc máy móc thế nào đó mà không chạy được. Đêm đã xuống. Trời tối om, không ai nhận ra ai. Đức Cha xuống xe, và khi đã hiểu cớ sự, ngài đã không nói không rằng, chui xuống gầm chiếc xe của hai vợ chồng, dùng đèn pin tìm chỗ trục trặc, và ít phút sau đã khắc phục được sự cố. Hai vợ chồng vui mừng và rối rít cám ơn vị ân nhân lạ mặt của mình. Khi họ hỏi ngài là ai, thì ngài trao cho họ một tấm danh thiếp rồi chào từ giã họ. Người chồng mở đèn trên xe và đọc :  +Paul Seitz, Giám mục Kontum.
          Ngưỡng mộ tấm lòng bác ái thật là sống động của một chức sắc cao trong đạo, hai người và các con của họ đã xin gia nhập đạo. Người chồng là bác sĩ Khiêm mà ai đã sống lâu năm ở Đà-lạt đều biết.
          Câu chuyện thứ hai kể về Cha Bửu Dưỡng, một linh mục dòng Đa-minh, người đã lập nên giáo xứ Du-sinh Đà-lạt. Chuyện kể rằng, khi còn là sinh viên, ngài thường về nghỉ hè tại nhà của thân phụ ngài là quan chức của triều đình Huế. Ngày kia, khi đi ngang qua chỗ làm việc của những gia nhân, ngài nghe một người nói với bạn của mình : "Mày là người có đạo mà ăn nói như vậy sao ?". Bị ám ảnh bởi câu nói đó, sinh viên Bửu Dưỡng đã tự hỏi tại sao người có đạo lại không được ăn nói như những người khác, cái gì bắt họ phải nói năng đàng hoàng, không thô tục, không xấc láo … Ngài đã tìm hiểu đạo và trở thành không chỉ là một giáo dân công giáo, mà còn là một linh mục nổi tiếng.
          Trước khi về trời, Chúa Giêsu đã truyền cho các môn đệ của Người phải trở thành những chứng nhân. Chúng ta đọc thấy điều này trong đoạn sách Công Vụ Tông Đồ sau đây : "Anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, trong khắp các miền Giuđêa, Samaria và cho đến tận cùng trái đất." (Cv 1, 8).
          Để kết thúc, có lẽ chúng ta nên đọc lại những lời Đức Thánh Cha Phao-lô VI đã nói với các Thành viên của Hội đồng Giáo hoàng về Giáo dân, ngày 02.10.1974, được ngài nhắc lại trong Tông huấn Loan báo Tin Mừng, ngày 08.12.1975 : "Người thời nay thích nghe chứng nhân hơn là thầy dạy, và nếu họ có nghe thầy dạy là bởi vì những người này đã là những chứng nhân."     

Du Trường        

Ơn gọi Thừa Sai



In
1.Thừa sai là một ơn gọi
Khi gọi ai thì người ta kêu hay làm dấu hiệu. Ai được kêu thì quay lại nhìn xem hay lắng tai nghe. Ai được người khác gọi hay vẫy tay thì nhìn xem, rồi tuỳ tiện hướng về phía người đó.
Người đi tu là người được Chúa gọi. Người được gọi thì nhiều, nhưng người được chọn lại ít (Mt 20,16). Kết quả của ơn gọi là tuỳ như người ta có nghe tiếng Chúa gọi và có quảng đại đáp lại tiếng đó hay không. Không phải tự nhiên mà các nhà truyền giáo đã chọn vào các tu hội thửa sai. Phải có cái gì đó nơi người được gọi. Mỗi người được gọi một cách để làm công việc Chúa muốn cho mình làm. Được gọi cách nào và để làm gì thì người được gọi phài tìm cách đáp ứng cho nhằm. Có như vậy mới được việc cho mình và cho Chúa. Nếu tôi cảm thấy mình được ơn gọi làm thửa sai thì tôi phải săn sóc và vun trồng ơn gọi này. Tôi không thể là thừa sai, khi tôi còn lưỡng lự giữa việc dấn thân đi truyền giáo dưới nhiều hình thức, với sự hướng chiều về một đời sống yên hàn ở một nơi không có bấp bênh và xáo trộn. Nếu tôi thấy thiên về một đời sống như thế thì ấy là dấu tôi không thích hợp cho ơn gọi thừa sai. Bởi thế, ngay từ đầu tôi cần xác định thái độ của tôi trong ơn gọi thừa sai. Tôi đứng ở chỗ nào trên các chặng đường ơn gọi. Ơn gọi tu trì nào củng đòi người được gọi phải dấn thân và từ bỏ, nếu người ấy muốn đi đúng đường và trở nên một người có giá trị. Đôi khi xảy ra chuyện người ở trong hội dòng này lại muốn làm công việc của người ở trong hội dòng kia. Ngưởi ở đâu thì hãy làm đúng công việc ở đó. Là thửa sai thì hãy làm công việc của thửa sai, còn những việc khác để cho người khác làm. Người của hội dòng khác không làm được công việc của thừa sai và ngược lại. Vậy công việc của thửa sai là thế nào ?

2. Công việc hiện nay của Hội Thừa Sai Việt Nam

Hội Thừa Sai Việt Nam đã có từ trước 1975, thời Đức Tổng Nguyễn Kim Điền. Hội đã hoạt động và có được một số thành viên nòng cốt. Nhưng vì các biến động của thời cuộc, Hội không còn được sinh hoạt bình thường, các thành viên phân tán. Hội kể như “chìm xuống” cho đến những năm gần đây mới được khôi phục lại. Hội được mang danh là Thừa Sai Việt Nam trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam và được giao cho ĐC Phê-rô Trần Đình Tứ, Giám mục Phú Cường đảm trách. Hội bắt đầu chiêu sinh, lập trụ sở Trung Ương và bổ nhiệm người huấn luyện, xây học viện ở Gò Mây và được ĐHY Phạm Minh Mẫn giao cho quản nhiệm giáo xứ này. Mỗi lúc Hội được thành hình rõ nét và mang diện mạo của một tu hội thực thụ. Nhưng phải nói là tu hội còn đang ở trong giai đoạn đầu với những khó khăn và hạn chế. Tình trạng này có thể động viên những người đóng vai khai phá và tạo ra cho họ một niềm phần khởi hăng say nhưng cũng có thể làm cho một số thành viên e ngại về những khó khăn thuở ban đầu và cũng có thể vì thế mà tỏ ra ngao ngán không muốn tiếp tục hay muốn chuyển hướng sang một tu hội hoặc chủng viện đã có nề nếp vững chãi và bảo đảm hơn. Những điều này thật dễ hiểu và thường xảy ra. Nhưng có như thế thì ơn gọi thừa sai mới thực là một cái gì độc đáo, dành riêng cho những con người quả cảm, không ngại bước vào con đường chông gai để phục vụ Chúa và Gíáo Hội trên mảnh đất quê hương này.

3. Con đường đang đi tới

Những người di cư vào miền Nam năm 1954 và những người vượt biên sang các nước Âu Mỹ thập niên 70,80 đáng cho chúng ta suy nghĩ. Họ liều mạng bỏ lại tất cả để ra đi. Họ đã trải qua biết bao nhiêu gian nguy vất vả. Nhiều người đã bỏ mạng trong cuộc hải hành. Nhiều người còn lại đã phải cơ cực trăm chiều. Nhưng cuối cùng những con người này đã tạo lập được cơ nghiệp.

Con đường Hội Thừa Sai đang đi tới cũng giông giống như vậy. Các thảnh viên hiện nay cũng như các vị hữu trách đang góp công góp sức để định hình cho tu hội. Như thế đủ hiểu vị trí và trách nhiệm của thế hệ đương thời với công lao và những hy sinh vất vả. Nhưng có công trình đáng kể nào mà lại ở ngoài sự hy sinh.

4. Con đường riêng của Hội Thừa Sai

Thừa Sai là thừa lệnh để được sai đi. Địa điểm được sai đến là các vùng truyên giáo trong nước cũng như ngoài nước. Bất cứ ở đâu cần người rao giảng, làm chứng cho Chúa là người thừa sai được gửi tới. Phạm vi truyền giáo có hai: một là truyền giáo bên trong, hai là truyền giáo bên ngoài. Truyền giáo bên trong là truyền giáo trong gia đình, tại quê hương xứ sở, nơi mình sinh sống. Truyền giáo bên ngoài là đi xa, tới những nơi không phải là đất nước mình, giữa những người xa lạ về đủ thứ: ngôn ngữ, chủng tộc, tôn giáo, có khi tại những nơi và những người thủ nghịch với đạo của mình nữa, như hiện nay tại những nước Hồi giáo Ấn độ, Pakistan, Indonesia v.v… Sứ mệnh truyền giáo này đòi hỏi nơi nhà thừa sai một tinh thần từ bỏ và một sự sẵn sàng chấp nhận những hy sinh cần thiết về nhà ở, cơm ăn, áo mặc và một số tiện nghi tối thiểu. Chính những sự hy sinh từ bỏ này tạo nên những mẫu người đáng kính phục. Vì thế, nếu muốn là thừa sai đích thật thì phải mang trong mình xu hướng và tâm trạng này. Ngày xưa khi có người muốn theo Chúa, Chúa đã bảo người ấy là Người không có nơi tựa đầu (Lc 9,58) và ai đã cầm cầy mà còn ngoái lại đàng sau thì không thích hợp với Nước Thiên Chúa (Lc 9, 62). Tất cả đều là hy sinh và đòi hỏi.

Não trạng của người thời nay khó quen vả chấp nhận những đòi hỏi như thế. Tính tự nhiên là như vậy. Nhưng nếu được ơn Chúa giúp, con người sẽ ra khác. Cùng với sự tập tành và tu luyện theo một nền thần học và linh đạo truyền giáo, qua sách vở và kinh nghiệm cũng như đời sống của các bậc tiền bối trong ngành truyền giáo, những ai theo ơn gọi thừa sai sẽ được Chúa hướng dẫn bườc đường mình đi; Người sẽ ban cho tinh thần truyền giáo như đã ban cho các bậc cha anh, để hoạt động trong cánh đống truyền giáo mênh mông và đa dạng.

Người ta không thể thành thợ trong một ngày cũng như không thể thành nhà truyền giáo trong một thời gian ngắn. Đây là một công trình dài hạn, một ơn gọi cam go mà chỉ những người kiên trì và thiện chí mới theo đuổi được. Ngoài ra, đây cũng còn là công trình tập thể. Phải có nhiều người chung vai sát cánh bắt tay vào việc, nâng đỡ và khuyến khích lẫn nhau, mới khỏi nản và giữ được ngọn lửa hăng say như lúc ban đầu.

Bởi vậy, việc huấn luyện là cần, huấn luyện chung cũng như huấn luyện riêng. Ai đang trong thời kỳ đào luyện, hảy tận dụng thời gian này để luyện cho mình một tinh thần vững chắc hiến thân cho việc truyền giáo và coi đây là lý tưởng của đời mình, một lý tưởng tạo ra giá trị và đem lại niềm vui cho mình, một niềm vui của người cho đi nhưng được nhận lại. Điều này xem ra như là một nghịch lý của Tin Mừng: cho thì đươc, chết đi sẽ được sống như hạt lúa nếu không chết đi thì chỉ trơ trọi một mình, còn nếu chết đi (Ga 12,24), sẽ sinh nhiêu bông trái.

Kết luận: Lý tưởng truyền giáo tuy cao đẹp nhưng thật là khó. Vì vậy, phải tin và nhìn vào vẻ cao đẹp của lý tưởng cũng như tin vào sự hỗ trợ của ơn Chúa. Có như thế mới hy vọng theo đuổi lý tưởng cho đến cùng được.
Lm. Anrê Đỗ xuân Quế, OP
Nguồn:vietcatholic.net

Câu truyện đau lòng của vị Truyền giáo



Cha Piô Ngô Phúc Hậu đã ghi trong Nhật Ký Truyền giáo câu truyện rất đau lòng sau đây:
Ông chín Kiểu, năm nay đã ngót nghét 70. Mỗi giờ dạy học xong, tôi thường ra quán nước của ông ngày trước cổng trường. Đã từ lâu nói chuyện vòng vo, hôm nay tôi muốn đi vào chính đề: - Nghe nói ông Chín có Đạo, phải không? - Ừa, hồi đó tôi theo đạo Chúa như cha. Nhưng tôi bỏ xưng tội mấy chục năm rồi. - Vậy thì Chúa nhật tới tôi mời ông Chín đi lễ nghe!
Câu nói của tôi như một tiếng sét làm rung chuyển trời đất! Ông Chín khóc rú lên! Hai dòng lệ tuôn trào. Hai môi giật giật như người động kinh Tôi hoảng sợ ngồi chết trân. Năm phút sau, ông Chín bình tĩnh và kể chuyện:
-Cha tôi đạo dòng, bỏ Hòa Thành xuống Cái Keo làm ăn. Con cái sinh ra đều lấy vợ lấy chồng ngoại đạo. Cha sở Hòa  Thành phạt cha tôi không cho xưng tội rước lễ. Đến khi già yếu, biết mình không còn sống bao lâu nữa, nên ông đã chèo thuyền 30 cây số, từ đây lên đến Hòa Thành, chầu chực suốt Tuần Thánh, năn nỉ xin xưng tội rước lễ Tuần Thánh mà không được! Ông đành chèo thuyền trở về. Ông buồn rồi chết! Cha tôi chết không được chôn trong đất thánh!
Nói đến đây ông Chín lại khóc rú lên lần nữa. Ông mếu máo nói với giọng hằn học: "Cha tôi có làm điều gì thất đức đâu mà Hội Thánh đang tâm đày đọa ông đến độ già rồi mà vẫn còn bị xua đuổi. Chết rồi mà vẫn còn bị ghét bỏ!…
Bầu khí ngộp thở. Tôi cáo từ ra về mà lòng buồn man mác… Mấy hôm sau, tôi đến thăm ông chín Kiểu, hy vọng xoa dịu nỗi đau lòng của ông. Không ngờ, thấy trên cổ ông đã đeo tượng đức Phật sáng chói! Thế là xong! Lối vào đời ông đã bị chăng giây kẽm gai rồi! Ông đeo tượng Phật  để quyết liệt từ chối trở về với Chúa? Ông đeo tượng đức Phật để cảnh cáo linh mục "Từ nay đừng khuyên tôi trở lại đạo nữa!…"
Sau mấy chục năm bị nỗi đau cắn xé, hôm nay ông Chín đã xổ ra được. Giờ nầy chắc ông đang ngủ ngon. Trong giấc mơ những ngón tay ông đang mân mê tượng đức Phật từ bi. Còn tôi, linh mục Truyền giáo, thì giờ này vẫn chưa ngủ được. Một nỗi đau ray rứt vừa xuất hiện và có lẽ nó sẽ còn tiếp tục cắn xé lương tâm mình suốt đời!! (Lời góp ý: Sao cha không cầu nguyện và ăn chay để nhẫn nại và lâu dài chinh phục ông Chín? Vì theo lời Chúa, cha đã biết: "Thứ quỉ này, chỉ có ăn chay và cầu nguyện mới trừ được" (Mt 17:21)
Cha Hậu kể tiếp, tôi lan man nghĩ đến câu chuyện tại một giáo điểm nọ. Bà Năm khuyến khích chồng con theo Đạo, còn bà thì cứ khất lần. Khi gặng hỏi mãi bà đành tiết lộ:
"Hồi tôi còn bé, trong xóm tôi nhiều người theo đạo lắm. Ông cha Tây dạy: Theo đạo thì phải dẹp bỏ bàn thờ ông bà. Sau ngày Rửa tội linh đình, ông cha đi thăm các gia đình mới theo đạo. Tới một gia đình nọ, vừa tới cửa, ông cha giậm chân bẹt bẹt, miệng la hét: Tại sao chưa dẹp cái bàn thờ kia? Ông cha nhất định không bước chân qua ngưỡng cửa , cho tới khi cái bàn thờ ông bà bị khiêng bỏ ra ngoài sân!…"
Vừa nghe đến đây, tôi cảm thấy cái vị đắng đắng trong miệng, nghẹn ngào ở cổ. Bây giờ tôi mới hiểu suốt được nỗi lòng của ông Chín. Ông là người con có hiếu. Vì thương cha, mà ông hận Giáo Hội Công giáo! Giáo Hội đâu có dạy cha sở Hòa Thành xử quá khắt khe nghiêm ngặt với một tội nhân như vậy? Chỉ có ông Chín mới hiểu được rằng cha ông không thể không cưới vợ gả chồng ngoại đạo cho con cái, bởi lẽ cha ông sống cô thân cô thế giữa một vùng chỉ có người ngoại. Chỉ có ông Chín mới cảm thấy được cái tủi hận của một ông lão già gần đất xa trời, mà không được xưng tội rước lễ. Chỉ có ông Chín mới cảm thấy nỗi xót xa đau đớn khi bị từ chối không được chôn cất cha mình trong đất thánh, nơi mà cha ông hằng mơ ước!
Cha sở sau khi quyết liệt từ chối không cho ông lão già xưng tội rước lễ thì lòng vẫn an vui? Và sau khi nhất mực từ chối không cho con cháu chôn cất cha ông mình trong đất thánh, thì lương tâm ngài vẫn bình thản?! Đó là Luật, Luật của Giáo Hội?!
Giáo Hội đã canh tân, ít là từ sau Công Đồng Vaticanô II. Hẳn là đường lối mục vụ ấy không thể tồn tại và áp đặt trên cánh đồng Truyền giáo VN. (NKTG tr 41-43).

Nhà truyền giáo kể chuyện Chúa Giêsu như thế nào?

Vấn đề thứ ba chúng ta cùng chia sẻ là cách kể câu chuyện về Chúa Giêsu. Có người kể chuyện Giêsu như kể chuyện cổ tích Tấm Cám chỉ để ru ngủ trẻ thơ, đưa chúng vào một thiên đàng tưởng tượng trong khi Ðức Giêsu là chuyện thật, người thật, việc thật (x. Hồng y Paul Poupard, Sứ điệp trong Ðại hội Truyền giáo Châu Á, Văn kiện, tr. 54). Có người lại kể chuyện Giêsu như kể chuyện về anh hùng lịch sử Trần Hưng Ðạo hay về Tổng thống đương nhiệm Obama của Hoa Kỳ, dù chính người kể chẳng gặp và người nghe chẳng thấy, trong khi Ðức Giêsu là một người đang sống hôm qua, hôm nay và mãi mãi đến muôn đời, Người ở giữa chúng ta và ở trong chúng ta. Có người lại muốn kể câu chuyện về Ðức Giêsu với cử chỉ cường điệu và lời lẽ trang trọng như một diễn viên hay một nhà hùng biện trước đám đông để mong thuyết phục quần chúng và đón nhận những tràng pháo tay tán thưởng cho mình trong khi Giêsu chỉ muốn ta dùng những lời lẽ đơn thành để tạo sự hiệp thông giữa người kể và người nghe. Vậy chúng ta phải nói gì và nói như thế nào về Chúa Giêsu? 
Có lẽ ta sẽ tìm thấy câu trả lời qua chính lời dạy của Chúa Giêsu: "Lúc đó Thánh Thần sẽ cho anh em biết phải nói gì và nói như thế nào" (x. Lc 12,11-12; Mc 13,11), cũng như qua những bài giảng đầu tiên của Thánh Phêrô và các Tông đồ sau khi Chúa Thánh Thần hiện xuống được ghi lại trong sách Công vụ Tông đồ: 1,14-36; 2,11-26; 4,8-12; 13,16-42; 22,1-21; 26,1-23. Chúng ta có thể tóm tắt mấy điểm cơ bản về cách kể chuyện Giêsu sau đây:
1. Tập trung vào Chúa Giêsu
Các Tông đồ chỉ nói về Chúa Giêsu, về những gì liên quan đến Chúa Giêsu, về kinh nghiệm của mình với Chúa Giêsu. Họ không lo đi tìm kiến thức của người đời, cũng không quan tâm đến người nghe vui hay buồn khi nghe chuyện Giêsu. Họ kể lại trung thực tất cả những gì Thánh Thần thôi thúc họ nói, kể cả những kinh nghiệm đau thương như của Phêrô khi chối bỏ Giêsu, hay của Phaolô khi bách hại Kitô hữu.
Nhiều anh em linh mục chúng tôi rất lo khi đến ngày Chủ Nhật vì không biết chuẩn bị bài giảng thế nào cho tín hữu có thể đón nhận và sống Lời Chúa. Linh mục càng ở lâu trong một xứ đạo với các bài Kinh Thánh trở đi trở lại 3 năm một lần càng không biết giảng giải ra sao. Không lẽ năm nào cũng lấy lại bài giảng cũ?! Có linh mục vào mạng Internet, lấy một loạt các Bài giảng Chủ nhật của nhiều tác giả rồi tái chế bằng cách cắt dán mỗi bài một đoạn thành bài giảng của mình. Có người lại đi tìm các câu chuyện ngắn có ý nghĩa ở trong các sách báo để minh hoạ cho đề tài muốn giảng. Người khác lại nghĩ đến Lời Chúa là tin mừng, tin vui nên đưa cả những chuyện tiếu lâm vào để gây tiếng cười cho các thính giả và giờ giảng lễ trở thành một cuộc tấu hài. Có linh mục nghĩ rằng cần phải nói thật ngắn gọn, rõ ràng, bài giảng chỉ cần kéo dài chừng 5-7 phút, thánh lễ càng ngắn càng thu hút được nhiều tín hữu dự lễ nhưng thực tế lại dạy chúng tôi rằng càng thu ngắn bài giảng càng làm mất đi tính cách hấp dẫn kỳ lạ trong câu chuyện Giêsu!
Chúng ta không có chất liệu để nói về Ðức Giêsu trước hết chỉ vì chúng ta chưa gặp được Người nên chưa xác tín rằng Người đang sống và đang kể chuyện của Người qua lời lẽ của ta. Ta chỉ mới nói được lời của con người chứ chưa nói được lời của Thiên Chúa, nên câu chuyện không có sức biến đổi và thần hoá người nghe. Tại sao? Tại vì ta mới chỉ thở được khí tự nhiên nên lời ta chỉ là những âm thanh vang đến những đôi tai người phàm. Khi thở được Thần Khí, lời loan báo Tin Mừng của ta mới trở thành Lời Chúa và có sức cứu độ muôn loài.
2. Kể bằng ngôn ngữ tình yêu
Câu chuyện Giêsu là một chuyện tình nên phải kể bằng ngôn ngữ của tình yêu. Ðó là tiếng nói của những gì mang lại tích cực, tốt đẹp, hy vọng cho mọi người mọi vật; tiếng nói của sự thật và sự sống, của niềm tin và hy vọng, của thánh thiện và ân sủng, của tự do, công lý và hoà bình. Vì tình yêu là tất cả những thứ đó và còn hơn thế nữa.
Thiên Chúa là tình yêu, và để thể hiện mình, Thiên Chúa đã sai Con Một của Ngài là Ngôi Lời đến với chúng ta (x. Ga 3,16), làm người để cứu độ chúng ta. Người con đó là Chúa Giêsu. Khi kể về Chúa Giêsu, nhà truyền giáo phải bộc lộ được tình yêu này trong ánh mắt, lời nói, nụ cười và toàn thể con người như một chứng nhân của tình yêu, nhất là thành những hành động cụ thể cho những con người yếu kém, bị bỏ rơi, bị gạt ra ngoài lề xã hội hôm nay: "Chúng ta đừng yêu thương nơi đầu môi chót lưỡi nhưng phải yêu thương cách chân thật và bằng những việc làm" (1 Ga 3,18). Ðức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã trình bày cách kể chuyện này trong Thông điệp đầu tiên của ngài: Deus Caritas est (Thiên Chúa là Tình Yêu).
Người tín hữu ngày nay nói rất nhiều đến "bác ái", có nghĩa là "yêu rộng", "yêu quảng đại" và người đời càng nói nhiều hơn đến "tình yêu" nhưng nhiều người lại không tìm được nội dung của điều mình muốn nói. Chỉ có Chúa Giêsu là tình yêu cụ thể, thiết thực của Thiên Chúa mới có thể giúp tất cả chúng ta cảm nghiệm được giá trị cao cả của tình yêu và xây dựng được một nền văn minh tình yêu thực sự cho thế giới hôm nay.
3. Kể bằng mọi mặt của đời sống
Khi yêu nhau, người ta muốn diễn tả tình cảm không chỉ bằng lời mà còn sử dụng mọi phương tiện vật chất cũng như tinh thần để bộc lộ mình và liên kết với nhau. Những lần trao gửi quà tặng, thư từ, nhắn tin qua mạng, diễn tả bằng bài hát, lời thơ, tranh vẽ và cả những giây phút yên lặng bên nhau hay nhớ về nhau đều là những cách kể chuyện tình cho nhau nghe.
Nhà truyền giáo ngày nay, tuỳ theo ân sủng Chúa ban, có thể kể về Chúa Giêsu bằng nhiều cách thức. Nếu là thi sĩ, ta hãy làm thơ về Giêsu. Là nhạc sĩ, ca sĩ, ta có thể sáng tác và hát những bài hát về Giêsu, có thể cuốn hút hàng trăm ngàn bạn trẻ vì ta sáng tác, ta hát bằng Thần Khí của Thiên Chúa. Là nhà nghiên cứu, ta sẽ dùng tình yêu của Giêsu để xua tan sự lãnh đạm cứng nhắc của vật chất và khám phá ra muôn điều kỳ diệu trong thiên nhiên như Giêsu đã từng ra lệnh cho gió yên, biển lặng, bánh cá hoá nhiều# Như thế, người kể chuyện Giêsu không phải là lúc nào cũng nhắc tên Giêsu trên môi miệng nhưng lại diễn tả Người qua mọi lĩnh vực của đời sống vì Giêsu là tất cả và ở trong muôn loài (x. Ga 1,3; 16; 1 Cr 13,12; 15,28).
4. Kể qua Giáo Hội
Câu chuyện Giêsu còn đang được tiếp tục kể qua Giáo Hội là Nhiệm Thể Người (x. Hồng  Y P. Poupard, Sứ điệp, Kể chuyện Giêsu ở châu Á, FABC-Oe xuất bản, India, 2007, tr. 55). Ðức Giêsu đã kêu gọi những ai Người muốn (x. Mt 10,1-42; Mc 3,13) và sai họ đi khắp nơi, đến với muôn dân để kể lại câu chuyện của Người (x. Mt 28,19tt; Mc 16,15tt; Sắc lệnh Ad Gentes, số 5). Vì thế, câu chuyện Chúa Giêsu được tiếp tục kể qua hoạt động truyền giáo của Giáo Hội. Tất cả anh chị em chúng ta đang có mặt ở đây đều được mời gọi tham gia.
Tuy nhiên, chúng ta đừng quên rằng, trước khi là câu chuyện riêng tư của từng người thì Giêsu đã là câu chuyện của một tập thể, một cộng đồng gồm những người tin yêu Ðức Giêsu, đó là Giáo Hội, là thân thể mầu nhiệm của Người. Vì thế, muốn kể cho rõ ràng, đúng đắn và sống động, chúng ta được mời gọi cộng tác và liên kết với nhau.
Ðức cha Micae Hoàng Ðức Oanh với Uỷ ban Loan báo Tin Mừng đã tổ chức Hội thảo về Truyền giáo từ ngày 23 đến 25-3-2009 tại Sài Gòn, và đã thấy rằng cần phải có sự kết hợp hài hoà cũng như phối hợp chặt chẽ giữa các uỷ ban khác nhau của Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam như: Uỷ ban Truyền thông, Bác ái Xã hội, Văn hoá, Giáo lý Ðức tin, Linh mục - Chủng sinh, Tu sĩ... thì công cuộc loan báo Tin Mừng mới đạt được kết quả tốt đẹp (x. Ðc. Micae Hoàng Ðức Oanh, Thư gửi Ðức cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn, ngày 16-4-2009).
5. Kể chuyện Chúa Giêsu
Nói đến Tin Mừng, đến Lời Chúa, thường chúng ta nghĩ ngay đến cuốn Thánh Kinh, đến những câu văn, chữ viết trong sách đó chứ ít khi nghĩ đến Ngôi Lời sống động mà mình phải tìm gặp, yêu thương và giới thiệu cho người khác.
Tôi nhớ cách đây hơn 10 năm, trong lần giảng tĩnh tâm hằng năm cho các nữ tu dòng Nữ Vương Hoà Bình ở Buôn Ma Thuột, cha sở Nhà thờ Chính toà mời tôi đến nói chuyện về việc loan báo Tin Mừng cho hơn 100 giáo lý viên, gồm các chủng sinh, nữ tu và một ít tín hữu giáo dân. Tôi đưa ra một trường hợp:
- Thí dụ như các bạn gặp một người phụ nữ dân tộc thiểu số đang cho con bú thì câu Tin Mừng nào thích hợp nhất để loan báo trong trường hợp này?
Nhiều cánh tay giơ lên, một tu sĩ trả lời:
- Ðó là câu: "Phúc cho dạ đã cưu mang Người và vú đã cho Người bú" (Lc 11,27).
- Các bạn có đồng ý với câu trả lời này không?
- Hầu như không có ai phản đối hay đưa ra một câu nào khác.
- Các bạn thử tưởng tượng xem người phụ nữ đó nghĩ gì: Ðột ngột gặp một người lạ đứng trước mặt mình và nói một câu như thế, thì chỉ có thể là một người điên khùng nào đó vừa ra từ Nhà thương Chợ Quán (Sài Gòn) hay Nhà thương Biên Hoà mà thôi!
Vậy mà nhiều người chúng ta thường loan báo Tin Mừng theo cách đó. Có phải các giờ học Kinh Thánh với những kiểu chú giải Lời Chúa khác nhau đã làm chúng ta quên mất Giêsu là Ngôi Lời sống động?!
Trong trường hợp này, tôi sẽ nói với người phụ nữ:
"Chị ơi, chị bế cháu nằm ngửa như thế sẽ làm cháu bị ọc sữa và vú chị bị đau. Chị nên bế cháu thẳng hơn và đừng áp chặt bầu vú vào mặt cháu để cháu dễ thở". Ðó là "Tin Mừng của Ðức Giêsu Kitô theo Antôn Nguyễn Ngọc Sơn!".
Vâng, các bạn đừng cười nhạo, cho tôi là phạm thượng, vì chỉ có một Tin Mừng duy nhất của Ðức Giêsu, nhưng có hàng triệu người viết và rao giảng khác nhau. Không phải chỉ theo Matthêu, Marcô, Luca, Gioan mà còn theo Nguyễn Văn X, Trần Thị Y... Lời nào của chúng ta được Thần Khí Tình Yêu thúc đẩy nói nhân danh Ðức Giêsu thì đều là Tin Mừng, đều mang lại niềm vui, sức khoẻ, bình an và ơn cứu độ đến cho mọi người. Thánh Gioan đã kết thúc Tin Mừng bằng một câu rất hay cho trường hợp này: "Còn có nhiều điều khác Ðức Giêsu đã làm. Nếu viết lại từng điều một thì tôi thiết nghĩ cả thế giới cũng không đủ chỗ chứa các sách viết ra" (Ga 21,25). Chúng ta đang tiếp tục trở thành tác giả Tin Mừng, nhất là trở thành Tin Mừng sống động của Ðức Kitô.

Kết Luận
Câu chuyện về Chúa Giêsu là một chuyện dài diễn ra trong suốt đời sống của nhà truyền giáo mà chúng ta không thể kể hết ở đây. Câu chuyện có lẽ vẫn còn tiếp tục cả ở trên thiêng đàng, dù lúc ấy ta được nhìn tận mắt Người Yêu tuyệt vời của mình! Ðiều chia sẻ với các bạn hôm nay chỉ là một đoạn rất nhỏ để góp vào câu chuyện của tất cả chúng ta, dù lời kể của tôi còn nhiều lúng túng. Cầu chúc các bạn trở thành những người kể chuyện tuyệt vời về Chúa Giêsu và cho Chúa Giêsu.

Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Sơn
Tháng 5-2009

Ai Là Thừa Sai Hôm Nay?






Bài của Linh Mục Piero Gheddo (www.gheddopiero.it), từng là chủ nhiệm tờ “Mondo e Missione” và tờ “Italia Missionaria.” Ngài là đồng sáng lập các tổ chức Emi (1955),Mani Tese (1973) và Asia News (1986). Là nhà thừa sai, ngài đã tham gia sứ mạng tại mọi lục địa và đã viết hơn 80 quyển sách. Ngài cũng từng điều hành Văn Phòng Đặc Trách Lịch Sử của Pime ở Rôma và là thỉnh nguyện viên của các vụ án phong thánh. Hiện nay Cha Piero Gheddo đang nghỉ hưu ở Milan.


Gia đình đang khủng hoảng; chúng ta đã rơi xuống mức dưới zê-rô trên biểu đồ biến thiên dân số. “Nước Ý đang dần tiến tới một cuộc tự sát về dân số học,” đó là nhận định của Hồng Y Angelo Bagnasco, Chủ Tịch Hội Đồng Giám Mục Ý, hôm 25 tháng 5 vừa qua. Chúng ta có quá ít trẻ em; và rõ ràng là con số các linh mục, nữ tu, và các bạn trẻ dâng hiến đời mình cho Thiên Chúa và cho Giáo Hội đang tụt giảm. Các tổ chức thừa sai cũng nhìn thấy sự tụt giảm số thừa sai người Ý, đúng vào những năm mà các giám mục của các xứ ‘truyền giáo’ cần những nhà thừa sai mới (xin xem bài “Không có người Ý nào trong số 11 tân linh mục của Pime,” đăng ở Zenit hôm 07.6 vừa qua).


Ngày nay ta thường nghe nói rằng các “nhà thừa sai” đã hoàn thành nhiệm vụ rồi: Giáo Hội đã được thiết lập ở mọi nơi rồi, và công cuộc sứ mạng được giao lại cho các Giáo Hội địa phương cũng như cho mối hiệp thông giữa các Giáo Hội địa phương. Đó là một trong nhiều quan điểm hoàn toàn thiếu cơ sở của thời hậu Vatican II. Nó không đúng thực tế. Vì thực tế cho thấy hoàn toàn ngược lại. Chỉ cần nêu trường hợp của Hội Pime chúng tôi, là một trong nhiều tổ chức thừa sai: Trong 30 năm gần đây chúng tôi đã được mời gửi các thừa sai đến những xứ sở mà trước kia chúng tôi chưa từng có mặt. Chẳng hạn, chúng tôi đã đến Papua New Guinea (1981), Đài Loan (1986), Campuchia (1990), Mêhicô (1991), Côlômbia, Angiêri (2006). Và chúng tôi đã phải từ chối các lời mời khác của Hàn Quốc, Malaysia (Borneo), Kadắctan, Angôla, Êthiôpia, Libia, Sênêgan... Đó là chưa kể những lời mời khác từ Nam Mỹ.


Ngạn ngữ La-tinh có câu: “Lý luận không đứng vững nếu chống lại thực tế” (contra factum non valet argumentum). Và thực tế ở đây đối ngược lại lý thuyết cho rằng các nhà thừa sai đã hết thời và rằng Giáo Hội ngày nay không cần các nhà thừa sai nữa. Quả thực là sứ mạng đến với lương dân đã thay đổi nhiều từ thời Công Đồng cho đến hôm nay, nhưng các hội thừa sai và các nhà thừa sai cũng thay đổi. Khi đến phục vụ các Giáo Hội và các dân tộc địa phương, việc huấn luyện các nhà thừa sai và chính các hội thừa sai cũng đã thay đổi nhiều. Dù sao đi nữa, tôi thấy rằng ngay trong thời đại toàn cầu hóa này (thế giới trở thành một ngôi làng nhỏ), nhà thừa sai - ở Ý và ở các nước phương Tây nói chung - phải trở thành một hình ảnh ngày càng thực tế hơn. Và điều đó chỉ có thể thực hiện khi bảo toàn được căn tính, đặc sủng và nhiệt tình loan báo Tin Mừng của mình.

Câu hỏi đặt ra cho các thừa sai và các hội thừa sai chúng ta hiện nay, đó là: Nhà thừa sai, bạn là ai?

Theo cách hiểu chung chung, thì chúng ta là những người được Giáo Hội sai đi để loan báo và làm chứng cho Đức Kitô, và thiết lập những cộng đoàn Kitô hữu mới giữa lương dân – đó là một minh họa hùng hồn cho thấy đức tin vào Chúa Kitô được mang đến tận cùng trái đất. Ngày nay chúng ta ở trong mối liên đới với hết mọi người. Công Đồng Vatican II (1962-1965), với đầy khí thế, đã thúc đẩy mạnh mẽ sứ mạng đến với toàn thế giới, nhưng chỉ trong ít năm, chúng ta đã rơi vào những ý tưởng nhùng nhằng của năm 1968, để mình bị cuốn đi bởi các “trào lưu văn hóa” của thời đại. Chúng ta sống trong “thời đại của hình ảnh,” và người ta không còn nhận ra hình ảnh các nhà thừa sai và các “phong trào thừa sai ở Ý” nữa. Phải chăng chúng ta chấp nhận đánh mất “hình ảnh” của mình? Hình ảnh của nhà thừa sai dần dần bị chính trị hóa, và rốt cục chúng ta rơi vào tình trạng cải cách xập xí xập ngầu, như điều đã xảy ra với nền văn hóa Ý vậy. Trên cánh đồng sứ mạng, các thừa sai tiếp tục công việc của họ trong tinh thần hy sinh và lòng trung thành với đặc sủng; còn ở Ý thì tôi thấy hình ảnh nhà thừa sai đã thay đổi và không còn phản ảnh các tính chất đó nữa.

Xem lại các tạp chí chuyên đề về sứ mạng thừa sai cách đây 40 năm, tôi gặp thấy các bài viết về sứ mạng, về loan báo Tin Mừng cho các dân tộc, về những người mới trở lại, những người dự tòng, về những điều mới mẻ của các Giáo Hội non trẻ, về việc rao giảng Đức Kitô trong các nền văn hóa, về các mẩu gương và các kinh nghiệm thừa sai... Đó là những đề tài căn bản của các tạp chí hay sách vở về sứ mạng, vốn thường xuyên đề cập đến ơn gọi thừa sai trong đời sống và đến với lương dân, và đưa ra những gợi ý cụ thể cho các bạn trẻ.

Còn hôm nay, nếu tôi khảo sát thư mục sách vở về sứ mạng được hiệu chỉnh hằng năm của Thư Viện Đại Học Giáo Hoàng Urbaniana (mà tôi đã theo dõi suốt hơn nửa thế kỷ), thì thấy mỗi năm, cứ so với năm trước, đều suy giảm âm vang về sứ mạng, về loan báo Tin Mừng, về ơn gọi thừa sai. Để bù vào đó, người ta ngày càng nói nhiều đến những chủ đề khác như hòa bình thế giới, phát triển, viện trợ quốc tế, nợ nước ngoài, vân vân...

Có những tạp chí mang danh nghĩa “thừa sai” nhưng chẳng còn mấy chất “thừa sai” nữa. Những “trung tâm văn hóa” của các hội thừa sai tổ chức nhiều cuộc hội thảo mỗi năm, nhưng gần như chẳng có cuộc hội thảo nào dành cho chủ đề sứ mạng đến với lương dân và dành cho những nhà thừa sai bằng xương bằng thịt. Các cơ sở phát hành sách của các hội thừa sai (vốn có chức năng giới thiệu sách vở về sứ mạng thừa sai) thì lại chỉ bày những thứ khác trong tủ kính; người ta nói về “đủ thứ chuyện trên đời” ngoại trừ chuyện “sứ mạng.” Các nhà thừa sai hôm nay hầu như bị thâm nhiễm tính lãnh đạm của thế giới hiện đại, đánh mất ngọn lửa nhiệt tình đến với lương dân và đánh mất thói quen tốt là nói về ơn gọi của mình. Và còn biết bao điều đáng nói khác nữa. Ở đây tôi không có ý qui trách cho ai; tôi chỉ muốn nhận xét chung tình hình và chỉ ra rằng chúng ta đang đánh mất căn tính của mình.

Tôi tin rằng trong tâm khảm của người dân Ý không có một hình ảnh nào cuốn hút hơn là hình ảnh nhà thừa sai và lý tưởng thừa sai. Nhưng chúng ta, do sợ bị coi là “cổ hủ” và do không hiểu đúng về “đối thoại,” chúng ta không dám nói về việc hoán cải trở về với Đức Kitô; chúng ta dửng dưng với các kinh nghiệm thừa sai trên cánh đồng sứ mạng; chúng ta giảm trừ sứ mạng của Giáo Hội đến chỉ còn là trợ giúp cho người phong hủi và người đói khát. Chúng ta “phục vụ Giáo Hội địa phương” nhưng quên rằng việc phục vụ này trước hết phải hướng đến sứ mạng xây dựng đoàn chiên Chúa Kitô. Ta nghĩ rằng mình “làm sứ mạng” khi ta lên tiếng tố cáo các quốc gia sản xuất và bán vũ khí, hay khi ta làm những điều tích cực nào đó khác. Nhưng đó đâu phải là cái cốt của sứ mạng thừa sai!

Trước đây, vào buổi tối trước ngày Chúa Nhật Sứ Mạng hằng năm, chúng ta luôn được nghe các chứng từ của các thừa sai đang làm việc trực tiếp trên cánh đồng sứ mạng: các linh mục, tu sĩ nam nữ, các giáo dân tình nguyện. Ngày nay thì vào dịp này, thiên hạ đến nghe các “nhóm thừa sai” bình luận về việc sản xuất vũ khí hay về việc tư hữu hóa nguồn nước, với các chuyên gia liên hệ đến các chủ đề đó. Nhưng liệu những hoạt động ‘biểu tình phản kháng’ như vậy có giúp một cậu trai hay một cô gái nghe được tiếng Chúa Thánh Thần mời gọi mình trở thành một nhà thừa sai hay không?

Indro Montanelli đã suy tư nhiều về tâm thức chung của thời mình; có lần ông nói với tôi (tôi vốn cộng tác với tờ “Il Giornale” và sau đó là tờ “La Voce” của ông): “Các anh, tất cả những nhà thừa sai, các anh là những anh hùng!” Tôi đã trả lời ông rằng nói vậy không đúng hoàn toàn đâu, rằng chúng tôi là những con người bình thường như bất cứ ai, với một ơn gọi đặc biệt trong Giáo Hội. Nhưng hôm nay, khi Thiên Chúa tốt lành ban cho chúng ta những anh hùng đích thực, những “vị thánh” của thời đại chúng ta, để chúng ta biểu dương các vị ấy và qua đó đánh động công luận – thì chúng ta lại nói về họ một cách phiến diện, viện lẽ rằng đừng “tạo ra anh hùng” và đừng “hãnh thắng”.

Tôi nhớ Cha Giuseppe Ambrosoli (1923-1987); ngài là một y sĩ thừa sai dòng Comboni, xuất thân từ một gia đình chủ xí nghiệp giàu có (hãng sản xuất mật Ambrocoli). Tôi đã ghé thăm ngài ở bệnh viện Kalongo giữa khói lửa chiến tranh Ouganda. Tạp chí “Thế Giới và Sứ Mạng” (tháng 12, 1987) đã dành cho ngài một bài đặc biệt 20 trang của Roberto Beretta, và nhiều bài khác nữa.


Một hình ảnh tuyệt vời khác mà tiểu sử tóm tắt đã được EMI giới thiệu, đó là Marcello Candia (1915-1983), con trai của một nhà sáng lập công nghiệp hóa chất ở Lombardie (vào những năm đầu thế kỷ 20). Sau một quãng đời quản trị xí nghiệp, Marcello đã bán tất cả và đi với các nhà thừa sai đến Amazzonia, ở đó ông đã sống 18 năm cuối đời trong khó nghèo và chuyên lo các công việc xây dựng. Dù đương đầu với biết bao trở lực, ông đã dấn thân trong lãnh vực y tế và giáo dục, phục vụ các bệnh nhân phong và những người thổ dân. Thế nhưng khi ông qua đời (1983), các tạp chí chuyên đề sứ mạng chẳng nói bao nhiêu về ông; một tạp chí viết: “Marcello Candia đã xây dựng một nhà thương ở Amazzonia, nhưng điều này không khó, vì ông có nhiều tiền!” Người ta chẳng nhắc gì đến cả cuộc đời “tuẫn đạo bằng đức ái” đích thực của con người này!

Tôi nghĩ đến Cha Clemente Vismara (1897-1988), linh mục thừa sai ở Birmanie trong 65 năm, người mà các giám mục địa phương gọi là “bậc trưởng thượng của Birmanie” (có lẽ ngài sẽ được phong Chân Phước vào năm tới). Và một số nhà thừa sai thật sự anh hùng khác...

Ngoài những vị ấy ra, khi đề cập đến hoạt động thừa sai, chúng ta hầu như chẳng còn nhận ra ai nữa giữa chúng ta. Tôi xin nhắc lại rằng tôi không lên án bất cứ ai, không có ai có lỗi cách riêng ở đây; đây là một sự chệch hướng cách chung mà chúng ta được yêu cầu phải làm một cái gì đó. Sự chệch hướng này cho thấy rõ tại sao nhà thừa sai hôm nay đang đánh mất căn tính của mình, và đánh mất khả năng lôi cuốn các bạn trẻ nam nữ đầy thiện chí, đầy tình yêu đối với Đức Kitô, để họ hiến thân đem Chúa Giêsu đến cho mọi người.

Nhưng liệu các nhà thừa sai chúng ta có còn thực sự tin vào đặc sủng của mình không? Và liệu chúng ta có còn nhiệt tình đối với ơn gọi hàm chứa trong đặc sủng ấy?

(chuyển ngữ từ “Chi è il missionario oggi?” của Piero Gheddo, trong zenit.org ngày 11.6.2010)


Piero Gheddo /Thiên Phong

Thứ Bảy, 24 tháng 9, 2011

Tâm sự của một ơn gọi truyền giáo



THỨ BẢY, 23 THÁNG 10 2010 14:13

“Lạy Cha, Con tạ ơn Cha vì Cha đã mạc khải cho những kẻ bé mọn biết mầu nhiệm nước trời”.

Năm 1995

“Lạy Cha chúng con ở trên trời,
chúng con nguyện danh Cha cả sáng,
nước Cha trị đến,
ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời”.


Chúa nhật, con đi học giáo lý cùng các bạn trong xóm, bài giáo lý hôm nay, Cha phó dạy chúng con cầu nguyện với kinh Lạy Cha. “Lạy Cha chúng con ở trên trời”, con cứ nhẩm đi nhẩm lại “Lạy Cha chúng con ở trên trời” và suốt buổi sáng hôm đó, trong đầu cô bé mười ba tuổi này cứ miên man với kinh Lạy Cha. “Lạy Cha chúng con ở trên trời” con hạnh phúc và vui sướng với câu “Lạy Cha chúng con ở trên trời” con cười một mình và lòng con tràn ngập bình an.


http://fmavtn.org/index.php?option=com_content&view=category&layout=blog&id=53&Itemid=616&limitstart=20