Hiển thị các bài đăng có nhãn Hạnh Các Thánh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hạnh Các Thánh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 24 tháng 1, 2012

Truyện 1


Ngày kia, từ trong sa mạc hoang vắng, thánh Anton ẩn tu đã tìm đến gặp ông thợ giầy, vì nghe đồn người này có một đời sống đức rất đặc biệt.
Khi thánh nhân hỏi đâu là bí quyết nên thánh, người thợ giầy đáp:
 -Tôi chỉ biết đóng giầy.
Thánh Anton rất ngạc nhiên, ngài hỏi tiếp:
 - Nếu chỉ có thế thì làm sao mà gọi là thánh thiện được?
Tôi đây, tôi nghĩ đến Chúa từng giây từng phút, ông có bí quyết nào khác chăng?
Người thợ giầy giải thích:
- Tôi làm việc 8 giờ, cầu nguyện 8 giờ và nghỉ ngơi 8 giờ.
Thánh Anton cũng chưa cho đó là một cuộc sống trọn lành. Ngài vẫn thắc mắc hỏi:
- Vậy ông sống đức khó nghèo như thế nào?
Người thợ giầy đáp:
- Tôi dâng cho Hội Thánh một phần ba của cải, một phần ba của cải tôi tặng người nghèo, một phần ba giữ lại cho tôi.
Thánh Anton vẫn chưa chịu cho đó là bí quyết trọn hảo nhất, vì chính ngài đã dâng hết của cải cho Giáo Hội và người nghèo.
Vị thánh nhân vẫn hỏi mãi, nên cuối cùng người thợ giầy mới nói bí quyết của ông như sau:
- Mặc dù tôi phân phát mỗi phần ba tiền lương của tôi cho người nghèo,
nhưng đêm ngày tôi không sao yên được khi tôi nhìn thấy cảnh nghèo chung quanh tôi, đến độ tôi đã thưa với Chúa: “Lạy Chúa, thà con phải vào hỏa ngục còn hơn là nhìn thấy những người khốn khổ này phải triền miên trong cảnh nghèo đói.
 Nghe đến đây, thánh Antôn bỏ ra về, ngài chợt hiểu rằng ngài chưa được thánh thiện như người thợ giầy này đã dám hy sinh tất cả chỉ vì yêu thương người nghèo.
 Có nhiều cách để nên thánh. Có người nên thánh trong cuộc sống giữa trần đời, có người nên thánh trong bậc tu trì.
  Tuy nhiên, giữa những khác biệt vẫn có một mẫu sống chung cho tất cả mọi cuôc sống thánh thiện, đó là tình yêu.

Thứ Sáu, 23 tháng 9, 2011

Dấn Thân



1/Thí Mạng Cho Người Hủi Việt Nam


          Trong nước Việt Nam cũng như trên toàn thế giới , người ta nghe nói nhiều đến nhà phung Quy Hòa , ở ngoại ô thị xã Quy Nhơn , nhưng thử hỏi mấy ai biết đến vị sáng lập nhà phung ấy . Vị đó là cha Paul Maheu một linh mục người Pháp đã từ giã quê hương thân yêu với cuộc sống tiện nghi để chôn vùi đời mình giữa đám người xa lạ  , mắc phải thứ bệnh khủng khiếp nhất trong loài người .


           Thật thế bịnh phung cùi là một thứ bệnh khủng khiếp nhất .Ai mắc nó  phải chịu một cơn hấp hối trường kỳ dai dẳng .Thân thể họ luôn luôn nhức nhối , lở loét , xông mùi hôi thối nồng nặc .Dung nhan thì dần dần bị tàn phá , đặc biệt là khuôn mặt và tay chân ai trông cũng xa lánh nhờm tởm . Xã hội quá khiếp sợ họ nên thường tìm hết cách xua họ vào một nơi khuất mặt và như muốn lãng quên đi kẻo mất vui cuộc sống  .


            Paul Maheu thì lại khác . Là một linh mục công giáo , ngài đã dấn thân vào nếp sống của người hủi ,chọn họ làm con cái yêu quý cật ruột, sống trong một ngôi nhà bé nhỏ ngay giữa làng phung để đêm ngày săn sóc họ , lo cho họ đầy đủ vật chất cũng như tinh thần .


            Phía sau nhà có một cái kẻng , mỗi lần nghe tiếng kẻng đánh cha vội đi ra và dịu dàng hỏi :
            -Có việc gì vậy con , vào đây!


            Ngày nào cũng thế , điệp khúc ấy cứ vang lên đều đặn , và con tim của những người phung hủi hân hoan đón lấy . Rồi đến lượt họ , họ cũng cất lên những lời tâm sự , vì trong cảnh cô đơn buồn tủi ấy, chỉ mình cha Maheu là người thân tín duy nhất của họ thôi .


           -Thưa cha con đau buồn quá , Đêm qua con mới rụng thêm mất một đốt ngón tay nữa . Con đã lượm được nè , đây cha xem .


           Cha Maheu cầm lấy đốt ngón tay , thương tiếc như chính một phần thân thể của mình .Ngài ôm choàng lấy bệnh nhân , nghẹn ngào thốt lên những lời an ủi động viên tinh thần họ :


            -Tội nghiệp con quá ! Ta hãy cứ chiến đấu với bệnh tật  cứ dùng thêm thuốc để chận đứng cơn bệnh đi...


            Đối với cha Maheu , không có gì quý bằng các người phong hủi ,Ngài không thể rời họ một ngày , không thể không tìm cách khen lao họ khi có dịp .Mỗi khi khách từ xa đến thăm , ngài thường mời ở lại dùng cơm .Trong bữa ăn , miệng ngài liên tiếp giới thiệu:


            -Mời dùng trứng này , do gà của người phung nuôi đấy ! Mời dùng cá này cũng của người phung mới câu hồi sáng , còn đây sà lách cũng do người phung trồng đấy .Tốt lắm .


             Vừa mời ngài vừa ăn một cách ngon lành trong lúc khách thì quá khiêp sợ , chẳng dám dùng một tí chứ đừng nói chuyện ăn với uống .


              Không mấy năm sau , cha Maheu đã trở thành người phung thật sự .Càng đau đớn càng có dịp để chia xẻ cuộc đời của họ , họ càng mến yêu trọng kính ngài .Và rồi một hôm , người hùng dấn thân đã nằm xuống , xác ngài được chôn cất ngay giữa làng cùi bên cạnh những người con thân yêu .


              Mỗi dịp hiến mình trong ngày không phải là một khổ đau , mất mát , nhưng là một đề nghị của Chúa để con được lớn lên .


------------------------------------------------------------------------------------------------------------

2/Ông Tổ Hùng Tâm Dũng Chí


                Sau Đại thế chiến thứ hai , thanh niên ở các nước Âu châu nhất là nước Pháp cảm thấy thể chất tâm lý tan nát rã rời . Rất nhiều em phải thất lạc gia đình , không biết đi về đâu , em khác lại mất cha , chết mẹ , có em lại phải bệnh hoạn tàn tật ,lang thang khắp nơi , tụ tập lại thành từng bè , từng lũ , chia nhau đi cướp bóc , đập đánh chơi bời phóng đãng . Các chính quyền đã cố gắng phục hồi kinh tế , cải tạo xã hội ,Nhưng cho ăn cho mặc đâu phải là đủ .Các em còn cần tình thương , cần lý tưởng để xây dựng cuộc sống mới ,.Linh mục Gaston Courtois người Pháp đã dấn thân vào công việc ấy .Theo gương thánh Gioan Bosco , ngài săn sóc các em , yêu thương các em , hướng dẫn các em trong nhiều buổi sinh hoạt thoải mái , hùng mạnh ,Ngài cũng khuấy động lên trong hàng  ngũ những người có trách nhiệm ý thức về sự sa sút của giới trẻ .Họ cộng tác với ngài . Thế rồi hàng vạn thanh thiếu niên đã tìm lại được tuổi xuân , niềm hy vọng lại bừng sáng , lý tưởng sống lại hiện rõ . Phong trào "Hùng Tâm Dũng Chí" ra đời và chẳng mấy chốc lan rộng khắp năm châu .


               Vừa hòa mình với các em , cha Gaston Courtois vừa thức khuya dậy sớm để viết sách báo hướng dẫn giới trẻ .Trước nhỏ sau lớn , nhà in Fleurus ra đời giữa lòng thủ đô Paris và ngày càng phát triển mạnh .


                Cha Gaston Courtois được mời tham gia nhiều tổ chức quốc tế đặc trách thanh thiếu niên , Về sau , ngài được gọi sang phục vụ bên cạnh Tòa Thánh .Dù đã lớn tuổi , nhưng chúa nhật nào người ta cũng thấy ngài đi sinh hoạt với nhóm thanh thiếu niên ở Roma , vẫn tươi vui hăng hái như thuở nào .Thanh thiếu niên sung sướng vây quanh ngài , cởi mở tâm sự với ngài .Chúng biết quả tim ngài hằng yêu mến chúng , vì cả cuộc đời ngài đã hiến dâng trọn vẹn cho giới trẻ .


http://www.freewebs.com


Ngọn Nến Nhỏ



1/Ông Già Xứ ARS

Người ta thường thấy một nông dâ xứ Ars , mỗi ngày trước khi ra đồng , đều ghé đứng vào cuối nhà thờ cầu nguyện giây lát rồi mới đi cày . Khi trở về ông cũng ghé vào nhà thờ cầu nguyện như vậy .

Ai cũng để ý và cảm phục . Một hôm có người hỏi"Ngày ngày ông ghé vào nhà thờ mấy bận để làm gì thế?" Lão nông dân trả lời cách đơn sơ mà đầy ý nghĩa"Tôi bàn chuyện với Chúa và Chúa bàn chuyện với tôi"

Giờ cầu nguyện là giờ tâm sự với Chúa là Cha , chứ không phải là giờ làm bài là gìờ của quả tim chứ không phải là giờ luận lý .Đừng nặn óc bóp trán để trình bày với Chúa.

Nếu Điều Đó Có Ích Cho Phần Rỗi Của Con

Xưa có một người mù lúc nào cũng kết thúc lời cầu nguyện bằng câu "Nếu điều đó có ích cho phần rỗi của con"

Một hôm , người ta dẫn ông đến mồ của thánh Thomas thành Cantobery để xin Thánh nhân làm phép lạ chữa lành đôi mắt. Ông được nhận lời : đôi mắt vụt sáng lên ngay , Nhưng sau những giây phút vui mừng sung sướng , ông chợt nhớ mình quên kết thúc lời cầu nguyện bằng câu thường lệ " Nếu điều đó có lợi ích cho phần rỗi của con"nên ông vội vàng trở lại trước phần mộ của thánh Thomas xin được hóa mù trở lại nếu điều đó có ích cho phần rỗi của ông hơn là được sáng mắt;

Đôi mắt ông lại hóa nên mù như trước, nhưng đời ông từ đó nên thánh thiện .


=================================================================

2/Cha - Con Ta

Trong lần gặp gỡ thánh Phanxico vào dịp thánh nhân qua Tòa Thánh để xin phê chuẩn luật dòng Anh Em Hèn Mọn , Đức Thánh Cha thân mật hỏi ngài :
- Con có bao giờ thấy Chúa chưa?

- Con vừa thấy đêm qua.

- Người có nói gì với con không?

-Người và con bên nhau suốt đêm không nói gì .Tuy nhiên , cứ mỗi lần con nói "Cha" với Người thì Người trả lời lại với con "con Ta". Cứ thế , chẳng có gì hơn...cho đến khi trời sáng.

Chúa dạy con đọc kinh để giúp con cầu nguyện , nhưng việc chính là gặp gỡ , nói chuyện giữa Cha và con " Khi con cầu nguyện đừng lo phải nói gì . Hãy vào phòng đóng cửa lại , cầu nguyện với cha của con cách kín đáo , và Cha con thấy mọi sự sẽ nghe lời con" Không cần hình thức , chỉ cần tâm tình phụ tử.


=================================================================

3/Thằng Quỷ Làm Dấu Thánh Giá

Valentia mồ côi lúc mới lên 5 , phải ở với mẹ tại một khu lao động nghèo khổ . Ngày ngày sau Thánh lễ , cậu phải vào các tiệm ăn để đánh giầy cho khách .Mỗi lần khách trả tiền , cậu đều làm dấu Thánh Gía cám ơn Chúa . Tụi bạn nom thấy thế nhiều lần to nhỏ với nhau "Gạo thì không lo mà lo giữ đạo "Valentia vẫn cứ hiên ngang giữ hình thức cầu nguyện đơn sơ ấy

Năm 17 tuổi , cậu được ban văn nghệ khu phố cho đóng vai thằng quỷ. Màn đầu vừa dứt , khán giả vỗ tay hoan nghêng nhiệt liệt . Sang màn thứ hai, trời đột nhiên đỗ mưa , sấm sét nổi lên ầm ầm . Như bao nhiêu lần trước , " thằng quỷ trên sân khấu quên mất mình đang đóng kịch , vội quỳ gối làm dấu Thánh giá .Khán giả cười rồ lên , tưởng thằng quỷ làm hề, không ngờ Valentia cầu nguyện thật !"

Sau đêm ấy, mọi người trong khu xóm hiểu được hoàn cảnh của cậu, họ chung nhau quyên tiền để giúp Valentia ăn học .Đến sau, Valentia đỗ tiến sĩ lúc mới 30 tuổi.

Con hãy cầu nguyện luôn luôn bất cứ ở đâu . Chúa Giê su đã nói:"Hãy cầu nguyện không ngừng"

http://www.freewebs.com

Thứ Năm, 22 tháng 9, 2011

Thánh Nữ Phanxica Xavie Cabrini, M.S.C

(1850-1917)

Phục vụ tha nhân qua việc từ thiện bác ái.

Mặc dù lúc mở mắt chào đời, Maria Phanxica Cabrini sinh thiếu tháng và mắc phải một chứng bệnh hiểm nghèo, Mẹ Frances Xavier Cabrini sau này đã trở thành một trong những vị truyền giáo hoạt động hăng say vào bậc nhất trong giáo hội. Mẹ đã thành lập 67 cơ sở tử thiện vác ái và tu viện cho Dòng. Thêm vào sức hoạt động phi thường này, Mẹ sống một cuộc đời thánh thiện đến nổi chỉ 28 năm sau khi qua đời, Mẹ đã trở thành người công dân Mỹ đầu tiên được tôn phong lên bậc hiển thánh.

Bé Phanxica sinh ngày 15 tháng 7 năm 1850 tại San Angelo, Lombardy, nước Ý. Cha mẹ đạo đức của bé, ông Agostino và bà Stella, đã vội vàng xin cho bé được rửa tội, vì sợ bé không sống nổi. Phanxica là người con út trong số 13 người con. Trong số các anh chị, chị Rosa là người đặc biệt để ý đế bé Phanxica và cũng là người có nhiều ảnh hưởng nhất trên bé.

Khi Phanxica lên 13 tuổi, em được nghe một vị truyền giáo nói về việc truyền giáo tại Trung Hoa. Từ ngày đó, Phanxica bắt đầu nuôi mộng ước một ngày nào đó cũng sẽ trở thành một nhà truyền giáo, bất chấp sự chế nhạo của các chị khi họ biết mộng ước này của em. Cũng từ ngày đó, môn địa lý trở thành môn học Phanxica ưa thích nhất.

Phanxica theo học nội trú ại trường của các sơ Dòng Thánh Tâm tại Arluno. Tại đây, Phanxica theo học ngành sư phạm. Sau khi ra trường, Phanxica dạy vài năm trong trường làng, và dùng những giờ còn lại chăm sóc các bệnh nhân nghèo. Phanxica tiếp tục mong muốn được theo đuổi ơn gọi tu trì, nhưng hai dòng đã chối không nhận vì sức khỏe của chị. Khi Phanxica được 24 tuổi, Ðức Cha và Cha xứ đã xin Chị đến giúp các trẻ nữ tại Nhà Chúa Quan Phòng ở Codogno. Nhưng tại đây, Phanxica đã bị một số phụ nữ đối xử cách tàn tệ. Dưới hoàn cảnh đau khổ đó, Chị đã cố gắng để luyện tập đức khiêm nhu và cố gắng tiến tới trên đường nhân đức. Phanxica đã ở lại đây sáu năm, cho đến ngày Ðức Cha giáo phận Lodi đóng cửa cơ sở này. Không lâu sau, trong khi tiếp Phanxica, Ðức Cha đã nói với Chị, “Con vẫn luôn mong muốn làm nhà truyền giáo. Cha không thấy có Dòng nữ nào lo việc đó. Sao con không thành lập một Dòng lo việc truyền giáo?”

Lời đề nghị của Ðức Cha cho một người âm thầm và một phụ nữ trẻ yếu đuối như Phanxica để thành lập một dòng tu, nhất là giữa thời kỳ có nhiều nhóm chống tôn giáo đang nổi lên phá phách các dòng tu, quả là một lời đề nghị điên cuồng. Nhựng sau một giây phút thinh lặng, và không một lời trình bày về sự khó khăn của công việc này, Phanxica đã thưa với Ðức Cha, “Con sẽ tìm nơi ở”.

Những ngày đầu của Tu hội và các Nữ Tu Truyền Giáo Thánh Tâm thật là đơn sơ và nghèo nàn. Từ ngày lập Dòng, Mẹ Phanxica đã thêm tên Xaviê vào tên của mình, để tôn kính vị Thánh tông đồ miền Ấn Ðộ

Tu viện đầu tiên của Mẹ Cabrini là một tu viện bỏ trống của dòng Phanxicô. Trong đêm đầu tiên tại căn nhà mới này, Mẹ và bảy nữ tu trẻ đầu tiên đã phải nguyện kinh trong đêm tối, vì chưa có đèn điện. Thay vì giường, họ nằm ngủ trên đống cỏ khô. Thánh lễ đầu tiên đã được cử hành vào ngày 14 tháng 11 năm 1880 trong một căn phòng tạm sửa làm nhà nguyện.

Không lâu sau, nhiều thiếu nữ từ các vùng lân cận đã đến gia nhập dòng mới. Những lời chỉ bảo khôn ngoan hiền từ, thêm vào tình thương yêu của Mẹ dành cho các chị em, và lòng nhiệt thành của Mẹ đối với việc truyền giáo, đó là những yếu tố lôi kéo nhiều ơn gọi mới.

Trong thời gian đầu, dù tài chính còn eo hẹp, nhưng nhờ Mẹ tin tưởng vào Chúa Quan Phòng, các sơ vẫn luôn có được lòng tin tưởng vô biên nơi Thiên Chúa. Vì quá nhiều ơn gọi, Mẹ đã phải mở thêm ba tu viện mới. Tại Milanô, các sơ đã mở một nhà để giúp đỡ các thiếu nữ theo học tại đại học.

Sau Milanô, Mẹ Cabrini muốn mở tu viện tại Rôma. Khi được biết ý định của Mẹ, một người bạn và cũng là cố vấn của Mẹ đã xin Mẹ hãy cân nhắc cho chín chắn, kẻo nên trò cười cho thiên hạ. “Mẹ có điên không? Xin Mẹ hãy để việc này cho các thánh làm!” Nhưng dù gặp nhiều chống đối và dù dòng mới không có tài chính để mở trụ sở tại Rôma, Mẹ Cabrini và một chi dòng đã đến Rôma xin được yết kiến Ðức Thánh Cha. Tại Rôma, Mẹ không được gặp Ðức Thánh Cha, nhưng được nói chuyện với vị đại diện của ngài, Ðức Hồng Y Parocchi. Sau khi được biết Mẹ Cabrini muốn mở một tu viện tại Rôma, Ðức Hồng Y muốn biết dòng của Mẹ có đủ điều kiện để mở nhà ở Rôma hay không. Khi ngài hỏi Mẹ có đủ tài chính, hoặc có người nào đứng ra bảo trợ cho Dòng hay không, Mẹ đã từ tốn thưa lại là không có. Ðức Hồng Y cảm thấy hơi khó xử, dù ngài nhìn thầy con mắt của Mẹ bày tỏ đầy lòng tin tưởng. Ngài đã đề nghị với Mẹ hãy trở về và vài năm sau hãy trở lại. Mẹ liền đến một nhà thờ gần đó và trong nguyện cầu bày tỏ tất cả tấm lòng của mình lên Chúa Giêsu. Mấy ngày sau, Mẹ được tiếp kiến Ðức Hồng Y một lần nữa. Ngài hỏi Mẹ có sẵn sàng vâng lời không. Mẹ mau mắn đáp lại, “Con luôn sẵn sàng”. Ngài liền cười và nói, “Vậy thì không phải Mẹ sẽ mở một nhà, nhưng là hai nhà ở Rôma.

Ðến đầu năm 1889, Ðức Thánh Cha Lêô XIII gọi Mẹ đến. Ước mơ làm nhà truyền giáo đã đến lúc được thành tựu, nhưng không phải là sang miền viễn Ðông. Ðức Thánh Cha Lêô sai Mẹ sang Mỹ Châu để phục vụ những người dân Ý nghèo khổ tại Hoa Kỳ. Không một chút chần chờ, Mẹ Cabrini và sáu nữ tu khác liền lên đường và đến Nữu Ước vào tháng ba năm 1889. Mẹ và các sơ được hứa là sẽ có sẳn nhà ở. Trong đêm đầu tiên tại Mỹ, Mẹ và các sơ ở trong một căn nhà tạm trú tại phố Tàu. Dù rất mệt và vẫn còn bị ảnh hưởng của say sóng, các sơ phải ngồi dựa vào thành ghế để nghỉ, vì giường quá bẩn thỉu và đầy côn trùng.

Sau thánh lễ sáng hôm sau, các sơ đã vào chào Ðức Tổng Giám Mục. Ðức Cha đã xin lỗi Mẹ và các sơ vì chương trình mở một cô nhi viện cho các trẻ Ý đã thất bại, và Ngài đã viết thư báo cho các sơ hãy ở lại Ý, nhưng thư đó đến quá trễ. Ngài liền khuyên Mẹ và các sơ hãy trở về Ý. Nhưng Mẹ thưa với Ðức Cha, “Thưa Ðức Cha, con không thể làm như vậy. Chúng con được lệnh Tòa Thánh để đến đây, và vì thế, con phải ở lại.”

Ba tháng sau, khi Mẹ trở lại Ý, Mẹ Cabrini đã mở được một cô nhi viện và một trường học. Cho đến lúc chết, Mẹ đã vượt trùng dương 25 lần, lập cơ sở trên tám thành phố tại Hoa Kỳ và cả ở Trung và Nam Mỹ. Trong mọi nơi Mẹ đến, nhiều trường học, cô nhi viện, nhà thương và các cơ sở từ thiện bác ái từ từ mọc lên. Nơi những người bệnh và người nghèo, Mẹ Cabrini nhìn thấy Chúa Kitô. Mẹ đã cố gắng hết sức để giúp đỡ họ trong tinh thần cũng như vật chất qua những công việc tình thương này.

Mẹ đã nhập quốc tịch Mỹ tại Seattle vào năm 1909.

Qua bao nhiêu công việc cũng như mọi thành quả trong việc truyền giáo, Mẹ Cabrini luôn giữ được một sự bình an tâm hồn. Mẹ không bao giờ quên rằng Mẹ đã được tạo dựng để phụng sự một mình Thiên Chúa và để làm theo Thánh Ý Người. Khẩu hiệu của Mẹ là“Trong NGƯỜI, tôi có thể làm được mọi sự”. Trong một lần tĩnh tâm Mẹ đã viết những lờ sau đây bày tỏ tấm lòng hoàn toàn lệ thuộc vào Thánh Ý Chúa: “ Lạy Chúa Giêsu, con thiết tha yêu mến Chúa...Xin ban cho con một trái tim to bằng cả vũ trụ... Xin dạy bảo con những gì Chúa muốn con làm, và hãy thực hiện nơi con những gì Chúa muốn.”

Do lời cầu nguyện của Mẹ, Chúa cũng ban thưởng nhiều ơn đặc biệt cho Mẹ. Truyện kể rằng có một sơ bị bệnh giãn tĩnh mạch. Bác sĩ khuyên sơ nên luôn đeo đôi bít tất dài. Một ngày nọ, sơ đã lấy được đôi bít tất của Mẹ Cabrini, sơ đeo vào và liền được lành bệnh. Ngày hôm sau, Mẹ Cabrini thật thắc mắc khi thấy sơ nọ bước đi một cách bình thường. Khi được hỏi, sơ đã thú thật là đã đeo đôi bít tất của Mẹ. Mẹ Cabrini liền nói với sơ, “Chắc chị không đơn sơ đến nỗi nghĩ rằng đôi bít tất của tôi đã chữa bệnh cho chị. Tôi vẫn thường đeo nó mà có được gì đâu. Ðức tin của chị đã chữa chị đấy. Ðừng nói cho ai biết nhé.”

Mẹ Cabrini đã qua đời trong bình an tại phòng riêng của Mẹ trong Nhà Thương Columbus, thành phố Chicago vào năm 1917. Lúc còn sống, Mẹ đã chối không nhận làm được một phép lạ nào; nhưng sau khi qua đời, Chúa đã ban nhiều ơn cho những người đang nhờ lời cầu bầu của vị tông đồ truyền giáo nhiệt thành này.

Trên 150,000 đơn thỉnh nguyện và chứng tích ơn lạ nhận được từ mọi lớp người trên khắp thế giới đã được đệ lên Ðức Thánh Cha. Mười một năm sau khi Mẹ qua đời, Ðức Thánh Cha Piô Xi đã chỉ định một vị cáo thỉnh viên, và đã xin Ðức Hồng Y Mundelein, Tổng Giám Mục Chicago, mở cuộc điều tra phong thánh. Ðến năm 1938, Mẹ đã được phong chân phước, chỉ 21 năm sau khi Mẹ qua đời, đây là một kỷ lục trong thời đại mới. Giáo hội đã tôn phong Mẹ lên bậc hiển thánh vào ngày 7 tháng 6 năm 1964.






http://www.annagiusehien.net/D.SONGDAO/3.truyencacthanh/02.Cabrini%20Xavier.htm