Chủ Nhật, 2 tháng 10, 2011


VII: MỘT TRUYỀN THỐNG - NHIỀU KHUÔN MẶT - 1. ÊLIA, VỊ NGÔN SỨ BỐC LỬA


Hương Vĩnh
 (TIẾP THEO)
Ngay từ thuở ban đầu ở Đất Thánh, dòng Cát-Minh đã nhìn nhận ngôn sứ Êlia là vị Thủ lãnh về mặt tinh thần, là vị Tổ Phụ. Lý tưởng của ngài là lý tưởng của đan viện: chiêm niệm và nhiệt tình tông đồ.

Êlia bốc lửa 
Tiếng kêu tự tâm hồn ngôn sứ Êlia hiện vẫn còn khắc ghi trên huy hiệu của Đan Viện Cát-Minh: "Thiên Chúa hằng sống là Đấng tôi luôn chầu hầu trước mặt Ngài!” Tôi hằng phủ phục trong tôn thờ cầu khẩn, hay ngồi xuống trên hai gót chân mà say mê ngắm nhìn Ngài: Lạy Đức Giavê, Đấng Cao Cả, Toàn Năng 
Thế nhưng giữa lúc đang suy niệm, Êlia chợt bốc thành lửa: "Bấy giờ ngôn sứ Êlia đứng lên như một ngọn lửa phừng phừng, lời ông rực cháy như một ngọn đuốc” (Hc 48, 1) và những hành động nhiệt thành của ông làm rạng rỡ vinh quang Thiên Chúa. “Lửa đã từ trời xuống trên hy lễ của ông, thiêu rụi tất cả, trước mặt các ngôn sứ giả hiệu và đám thần Ba-an vô tích sự của họ” (1V 17, 9 -17).

Ngồi xuống, đứng lên 
Đó là “nhịp kép” của đan sĩ Cát-Minh. Ngồi xuống để chiêm niệm, để lòng được tràn đầy Thiên Chúa, để bắt lửa trong Tình yêu. Đứng lên để tuôn tràn, để mang Tin Mừng Cứu Độ đến cho thế giới vô tín và lạnh lùng.  
Ngồi xuống như Đức Mẹ Maria ở Na-da-rét. Mẹ đã đón nhận Ngôi Lời của Chúa Cha vào lòng, nhưng rồi bất chợt, cả Mẹ nữa, Mẹ cũng đã đứng lên và "hối hả ra đi" viếng thăm người chị họ để chia sẻ hồng ân Thiên Chúa, để thánh hoá cả Gioan, Giacaria và Élisabeth trong niềm vui rộn rã.  
Ngồi xuống như các tông đồ ở phòng tiệc ly, cùng cầu nguyện với Đức Mẹ, rồi thình lình "Thánh Thần đến, với những lưỡi lửa, cuồng phong, phép rửa bằng lửa. Họ được đầy tràn Chúa Thánh Thần (Cv 2,2)”, họ đã đứng lên và khởi đầu sứ vụ ra đi truyền giáo cho thế giới mãi đến tận cùng địa cầu và tới thời cánh chung.

Cầu nguyện thiết tha 
Điều gây ấn tượng nơi ngôn sứ Êlia, chính là lời cầu nguyện của ngài thật mạnh mẽ và lòng tin của ngài thật tuyệt đối, cho nên thánh Giacôbê mới đưa ngài lên làm gương mẫu cầu nguyện: "Lời cầu xin thiết tha của người công chính rất có hiệu năng. Ngôn sứ Êlia xưa cũng là người như chúng ta; ngài đã tha thiết cầu xin cho đừng có mưa, thì đã không có mưa xuống trên mặt đất suốt ba năm sáu tháng. Rồi ngài lại cầu xin, trời liền mưa xuống và đất đã trổ sinh hoa trái." (Gc 5, 16-18).  
Nối bước Êlia, Đan Viện Cát-Minh phải chuyển cầu cho thế giới và nâng thế giới "đứng lên" (Têrêxa Lisieux). Đan viện có trách nhiệm giữ cho tinh thần cầu nguyện luôn cháy nóng như một ngọn lửa trong Giáo Hội (Đức Giáo Hoàng Lêô XIII).

Vượt qua sa mạc 
Một điều khác cũng gây ấn tượng nơi ngôn sứ Êlia, đó là ngài đã vượt qua sa mạc. Quả là một cuộc chạy ráo riết để thoát khỏi đám kỵ binh của Jézabel gian ác đang săn đuổi ngài lúc bấy giờ. Có lúc người khổng lồ ấy đã kiệt sức, phơi bày cả nỗi yếu đuối và tuyệt vọng của mình. (Đó là lúc ngài thật gần gũi với chúng ta).  
Thế nhưng thần sứ Thiên Chúa đã đến tiếp tế cho ngài bánh và nước để sống. Ngài lại lên đường đến Horeb và đã được gặp Thiên Chúa ở đó, không phải trong những chấn động mãnh liệt của lửa, của động đất, nhưng trong cơn gió nhẹ thoảng qua, trong thinh lặng của tâm hồn và vạn vật.  
Các môn đệ của Êlia phải luôn thính tai sáng lòng nghe ngóng, để kịp thời nhận ra trong thinh lặng và cô tịch những bước chân nhẹ nhàng của Thiên Chúa đi qua, những lần gặp gỡ sâu sắc tăng cường sức lực cho người tông đồ, và lại đẩy họ lên đường đến với những anh em loài người của họ. 
Kinh Thánh không nói đến cái chết của ngôn sứ Êlia. Những con ngựa lửa kéo chiếc xe lửa đã mang ngài đi. Người Ả rập bảo Êlia là “con người xanh tươi". Ngọn lửa của ngài vẫn còn tiếp tục bừng cháy trong tâm hồn một Têrêxa của Chúa Giêsu, một Gioan Thánh Giá, một Têrêxa bé nhỏ, và của bao người khác. 
Ngài tiếp tục hét lên cho các tâm hồn ngày nay: “Nếu Chúa quả là Thiên Chúa đích thực, là Đấng Toàn Thể độc nhất, thì anh em hãy theo Ngài. Anh em còn đi khập khiễng hai chân cho đến bao giờ? Còn ngập ngừng cho đến bao giờ giữa Đấng là sung mãn, hạnh phúc, chân lý, tức là Đức Kitô Con Thiên Chúa thực sự phục sinh, Đấng hằng sống muôn đời, và các thần tượng rỗng tuếch: tiền bạc, chức quyền, tình dục, các lạc thú lừa dối. Tại sao lại chạy theo điều dối trá, đuổi bắt cái hư vô?" 
Hỡi các tâm hồn được gọi để nhìn thấy Thiên Chúa và chiếm hữu Đấng vô biên, các bạn đùa vui với những gì? Những cao vọng của các bạn thật khốn cùng, những ước mơ của các bạn chỉ là bọt xà phòng và cát bụi” (theo lời Gioan Thánh Giá).  
Đấng tôi đã được chiêm ngưỡng trên núi Tabor, đang đến mang lửa tình yêu xuống trần gian, để cho thế giới phải bùng cháy lên. Nếu không, biết bao người sẽ chết vì cóng lạnh. 
Tu huynh Jean Marie Gonin
Đan-sĩ Carmel 
(CÒN TIẾP)

Tác giả Đỗ Tân Hưng

VI. MỘT NGÀY TRONG ĐAN VIỆN CÁT-MINH


VI. MỘT NGÀY TRONG ĐAN VIỆN CÁT-MINH


Hương Vĩnh
 (TIẾP THEO) 
Ở đây không thể nêu lên một thời khóa biểu chính xác, bởi vì thay đổi từ cộng đoàn nầy đến cộng đoàn khác, từ xứ này sang xứ khác. Thế nhưng nội dung chính yếu thì ở đâu cũng tuân giữ một cách chặt chẽ. Trên hết là sự cầu nguyện.

Thánh Thể 
 Đối với con cái Đan Viện Cát-Minh, việc cử hành Thánh Thể hằng ngày là cách mật thiết nhất để cầu nguyện với Chúa Giêsu trong hy lễ của Ngài hiến dâng lên Chúa Cha. Đó là nơi thuận tiện nhất cho tất cả cộng đoàn được cùng nhau lãnh nhận tất cả và trao tặng tất cả. Chính đó là nơi thực sự xây dựng được sự hiệp thông giữa mọi người. Chính đó là lúc mọi dị biệt về nhân tính đều tan chảy thành một tình yêu lớn hơn.
 Giờ kinh thần vụ
 Kinh thần vụ là lời nguyện của Giáo Hội như trầm hương bay lên Thiên Chúa từ khắp nơi trên thế giới. Lời nguyện chen đều mọi giờ khắc trong ngày. Từ giờ Kinh Sáng hát lên lúc mới tinh mơ, cho đến giờ Kinh Tối trong đêm khuya, chẳng có khoảng thời gian nào không lấp đầy bằng kinh nguyện.

Nguyện ngắm
 Đây là việc cầu nguyện hoàn toàn chìm đắm trong thinh lặng, một giờ ban sáng, một giờ ban chiều, chú tâm một cách trìu mến và an bình vào mầu nhiệm Thiên Chúa hằng sống. Đó là giờ mà tấm lòng người con bé nhỏ, dù rất yếu đuối, dù mang bao vết thương, vẫn một niềm tin cậy, mở ra đón nhận tình âu yếm của Cha trên trời.
 Đó là giờ của tình bạn thân thiết với Chúa Giêsu, giờ mà dù người ta không nhận biết, ân sủng vẫn đang thấm nhập tâm hồn, thanh tẩy và từ từ làm cho tâm hồn biến đổi. Trong lãnh vực này, thánh Gioan Thánh Giá và thánh nữ Têrêxa Avila là những bậc thầy ít ai sánh kịp.
 Nguyện ngắm chính là hơi thở của Đan Viện Cát-Minh. Tất cả phần còn lại trong ngày, đều cố gắng sống trong nguyện ngắm, nghĩa là kết hợp với Thiên Chúa trong tất cả mọi sự. Dù đi làm việc gì, dù chuẩn bị gặp gỡ ai, tu sĩ vẫn luôn mang theo mình, tận đáy lòng, sự tưởng nhớ tới Chúa Giê-su.
 Làm việc trí óc, làm việc mục vụ, làm việc tay chân và vô vàn những việc khác để phục vụ cộng đoàn mà mỗi tu sĩ luôn đem hết tài năng đã lãnh nhận được để phục vụ lợi ích chung. Ở trong đan viện, bao giờ người ta cũng bận rộn làm một cái gì đó. Truyền thống luôn xác nhận rằng nhàn cư vi bất thiện: Ươn lười bị coi là kẻ thù tệ hại nhất, với ý nghĩa điều đó mở đường cho mọi tính hư tật xấu khác.

Làm việc 
 Điều đó được coi là giá trị nhân bản và cũng là giá trị Tin Mừng hàng đầu. Chúa Giêsu đã nói: "Cha tôi vẫn hằng làm việc luôn thì tôi cũng làm việc" (Ga 5,17). Ai đã dâng lòng mình cho Chúa thì cũng đặt hết tấm lòng mình vào công việc của Ngài, và vì thế, họ rất yêu mến Giáo Hội. Làm việc với tình yêu thương chính là đi vào công trình vĩ đại của thập giá.
 Và Thánh Phaolô dạy: "Ai không chịu làm việc thì cũng đừng ăn... Mỗi người hãy ăn tấm bánh tự mình làm ra." (2Tx 3, 8-10). Do đó, bạn hiểu tại sao mỗi đan viện Cát-Minh là một tổ ong lặng lẽ mà ở đó mỗi người chu toàn phận vụ nhỏ bé của mình. Mặt khác, thời gian đã thay đổi, không còn là thời mà các gia đình cự phú có thể thành lập và bảo dưỡng một đan viện. Ngày nay, đời sống cầu nguyện không chước miễn khỏi trả tiền bất cứ hóa đơn nào! Và như thế lại tốt hơn.
 Các bữa ăn cũng giống như những bữa ăn của mọi người, tuy nhiên có phần kiêng khem và chay tịnh một cách kín đáo, đó là những giá trị không bao giờ được quên. Các đan sĩ thường dùng bữa trong thinh lặng, hoặc nghe đọc một đoạn sách thú vị hoặc một bản nhạc hay, điều đó giúp tinh thần được thư thái không thể tưởng được.

Ngày lễ
 Cũng nên nhắc đến các ngày lễ: lễ phụng vụ, lễ của người này người kia, những lễ kỷ niệm long trọng. Tùy mức độ quan trọng, các ngày lễ phụng vụ mang vẻ lễ lạc hơn, cả bữa ăn cũng thịnh soạn hơn và giờ giải trí cũng kéo dài hơn.
 Các nữ đan sĩ không bao giờ thiếu sáng kiến (các nam đan sĩ cũng cố gắng noi bước) để các ngày lễ đó thêm hương thêm sắc, cho mọi người đều vui vẻ: một bức ảnh, một bó hoa, một bài thơ, một câu hò điệu hát, có khi là cả một vở kịch, và còn bao thứ khác nữa!
 Thánh Têrêxa Avila kiên trì bảo tồn những ngày lễ ấy. Ngài muốn những ngày lễ phải rạng rỡ niềm vui. Chính ngài không ngần ngại gõ trống và ôm Chúa Hài Đồng trong vòng tay mà nhảy múa.

Những đan sĩ trọng tuổi và đau yếu
 Một điều cuối cùng không thể bỏ qua, vì cũng nằm trong cái thường ngày: Đó là tình thươngdành cho các đan sĩ lão thành và đau yếu. Họ được cộng đoàn cưng chiều, ưu tiên hơn bất cứ ai khác. Họ mang lại cho cộng đoàn sự khôn ngoan, kinh nghiệm của một cuộc sống dài lâu, tấm gương hy sinh sống động về sự từ bỏ cũng như sự an vui thanh thản của họ. Những đan sĩ trẻ hơn thì đem sinh lực trẻ trung của mình phục vụ họ, trong lúc chờ đợi đến lượt mình, kẻ trước người sau...
 Các đan sĩ lão thành và các đan sĩ ốm đau bệnh tật được Đan Viện luôn giữ lại mãi cho đến cùng, chỉ trừ những khi vì lợi ích về sức khoẻ của họ hoặc việc điều trị cho họ buộc Đan Viện phải rời xa họ. Trong Đan Viện Cát-Minh, người ta chết giữa gia đình, được bao vây bởi những người từng chung sống suốt cả một đời.

Chấp nhận hy sinh
 Người ta có thể kể thêm bao nhiêu điều khác thật tốt đẹp, để giúp bạn thấy đời sống huynh đệ tỉ muội với nhau thắm thiết êm dịu biết bao. Ồ! dĩ nhiên không nên lý tưởng hoá! Các nam đan sĩ Cát-Minh không phải là những thiên thần (tạ ơn Chúa!). Các nữ đan sĩ Cát-Minh cũng không phải là những cô gái mẫu mực!
 Tất cả cái thường ngày vừa được phác họa trên đây đã được diễn ra không phải không gặp nhiều vấp váp, với những va chạm đôi khi xẹt lửa, và phải "bắt đầu trở lại hằng trăm lần".
 Bạn cũng quá hiểu rằng người ta không thể vươn tới những chân trời rực rỡ như thế mà lại thiếu những hy sinh bản thân! Con người cũ tội lỗi của chúng ta không dễ nhường chỗ cho con người mới, cho người con của Thiên Chúa! Tất cả chúng ta đều ương ngạnh, không thể một sớm một chiều có thể trở nên ngoan ngoãn…
 Thế nhưng phải chăng chính vì thế mà sẽ là một việc thật đẹp khi biết biến cái thường ngày thật giản dị và tầm thường thành một cái thường ngày của hy vọng và yêu thương? Dù thấy mình và biết mình đầy khốn cùng, người ta vẫn không bị đè bẹp hay bị tê liệt, khi hiểu rằng, cả với những cái khốn cùng ấy, Thiên Chúa vẫn làm nên được những điều kỳ diệu.
 Phải, dù bạn khốn cùng đến đâu chăng nữa, bạn vẫn có thể cứu vớt thế giới, nếu bạn biết biến tan đi trong cõi lòng Thiên Chúa.
 Trên tất cả, chính đó mới thật là một ngày trong đan viện Cát-Minh!
 Tu huynh Pierre Marie Salingardes 
Đan sĩ Cát-Minh 
(CÒN TIẾP)

Tác giả Đỗ Tân Hưng

V. CUỘC SỐNG ẨN SĨ


V. CUỘC SỐNG ẨN SĨ


Hương Vĩnh
 (TIẾP THEO)  
Cuộc sống thường nhật 
Trời chưa sáng. Sự thinh lặng của đêm trường còn bao trùm mặt đất, nhưng rồi sẽ tỉnh giấc để lao vào những công việc hằng ngày. Đó đây, ánh sáng đã bắt đầu chiếu qua các khung cửa sổ. Từ xa xa vang lên một “hồi chuông”...
 Đó là tiếng chuông của Đan Viện Cát-Minh. Mỗi ngày, đúng vào giờ đó, có lẽ đã từ hằng bao thế kỷ, hồi chuông kêu gọi các thầy – hoặc các chị - đến với công việc hàng đầu của con người là cầu nguyện: “Ngợi khen Chúa Giêsu Kitô và Đức Trinh Nữ Mẹ Ngài, mời anh em đến cầu nguyện ngợi khen Chúa...!” Đó cũng là khởi đầu một ngày mới trong Đan Viện Cát-Minh.
 Về nếp sống hằng ngày của các đan sĩ Cát-Minh – nam cũng như nữ - đôi khi người ta có những ý nghĩ kỳ lạ, và thường hơn, người ta chẳng có chút ý nghĩ gì! “Họ làm gì trong đó?...”
 Rồi khi đến gần họ, người ta ngạc nhiên thấy mình đang ở giữa những con người cũng như mình, không tốt hơn cũng không xấu hơn những người khác, cũng ăn cũng uống, cũng ngủ nghỉ, làm việc, cũng đau khổ và cười vui, như mọi người khác. Họ cũng giống như bao người bên cạnh, cũng quét nhà, tưới rau, đi bác sĩ nha sĩ, cũng đọc báo, đóng thuế...
 Như tất cả mọi người, đúng vậy! Nhưng cũng khác biết bao! Bởi vì nơi họ, nếu mọi sự đều giống mọi người đi nữa, thì mọi sự lại diễn ra cách khác: từ sáng đến tối, từ tối đến sáng, Thiên Chúa ở đó, thật gần gũi, Ngài được nhận ra trong niềm tin tinh tuyền, một cách vô hình nhưng lại là bạn đồng hành chí thiết, không hề rời xa.
 Thiên Chúa được họ ngắm nhìn, yêu mến, phục vụ. Thiên Chúa hằng được tưởng nhớ tới luôn. Mọi sự vật được tỏa chiếu một ánh sáng mới: đó là “Thiên Chúa”! Bạn hãy thay đổi cách nhìn của bạn, rồi cả thế giới chung quanh bạn sẽ đổi thay theo...
 Những giòng chữ này cố gắng trình bày cho bạn về dòng Cát-Minh. Lần dở từng trang, bạn sẽ có thể khám phá ra tâm hồn Cát-Minh. Hẳn đó là điều chính yếu. Nhưng không phải chỉ có thế thôi.
 Dòng Cát-Minh cũng còn là một dòng nhập thế. Dù đôi mắt có bị Thiên Chúa thu hút đến đâu, dù cuộc leo núi có đòi buộc phải lột bỏ hết mọi thứ, chính trong chiều sâu của cái thường nhật mà những khát vọng của mình được sống, và chính ở đó, trên mảnh đất cuộc sống, vận mệnh của họ được thực hiện.
 Vậy thì ở trong Đan Viện Cát-Minh người ta sống cái thường nhật đó như thế nào?

Điểm dị biệt đối với nam đan sỉ Cát-Minh
 Trước tiên, chúng ta hãy loại bỏ cái ý tưởng có thể xảy đến trong đầu óc là có một sự khác biệt căn bản giữa các nam tu và các nữ tu Cát-Minh: các nữ tu thì “sống kín”, còn các nam tu thì không. Thỉnh thoảng người ta gặp được các nam tu trên các nẻo đường, với sứ vụ rao giảng Tin Mừng, còn các nữ tu thì chẳng bao giờ.
 Sự thật quả đúng như vậy, nhưng bạn hãy bình tâm: cả nam lẫn nữ đan sĩ Cát-Minh, không ai có chút ý tưởng than thân trách phận về điểm nầy hết. Các nam tu đã lựa chọn. Đối với họ, điểm khác biệt quá lắm cũng chỉ liên quan đến mô hình của môi trường. Thế nhưng điều chính yếu, họ “hoàn toàn ở trên cùng một làn sóng”.
 Điều chính yếu đó là họ đã được trao ban trong đoàn sủng ban đầu của nếp sống tu trì nầy và chính đoàn sủng đó chi phối toàn bộ chương trình cuộc sống của họ. Quy Luật Cát-Minh đầu tiên ra đời năm 1209. Theo đó, các nam tu sĩ Cát-Minh đầu tiên đã tự xác định mình như là “những tu huynh ẩn sĩ của Mẹ Maria trên Núi Cát-Minh”.
 Nói theo ngôn ngữ ngày nay, đó là những ẩn sĩ sống thành cộng đoàn trong ngôi nhà của Đức Trinh Nữ Maria. Đó là điểm chính yếu đủ để quy định cả một cung cách sống ngay giữa cái thường nhật. Điều mà Thánh Têrêxa Avila ngày kia đã gọi là “nuestro modo de proceder” (cách sống của chúng ta).

Ẩn sĩ
 Có một sự đánh giá cao đối với cuộc sống thinh lặng và cô tịch. Ở thế kỷ 13, đan sĩ Cát-Minh thường sống trong hang động của mình, “ngày đêm suy gẫm luật Chúa ngoại trừ khi bận công việc khác cách chính đáng", và đàng khác, công việc bận rộn đó cũng phải được thực thi trong thinh lặng trong mức độ có thể được.
 Như vậy, bầu khí bình thường của một ngày trong đan viện Cát-Minh là sự thinh lặng. Một sự thinh lặng tốt đẹp mang lại nhiều bình an cho tâm hồn. Bạn không thể tưởng tượng được một câu chuyện nói lớn tiếng trong hành lang Đan Viện Cát-Minh là điều lạc điệu và mất lịch sự đến mức nào!
 Những thúc bách của cuộc sống thời nay và ngay cả chính sứ vụ nữa, đôi khi bắt buộc phải phá vỡ sự thinh lặng tốt đẹp ấy. Thế nhưng sẽ hoàn toàn sai lầm nếu có ai nghĩ rằng sự phá vỡ ấy được tiếp nhận như một dịp xả hơi. Ngược hẳn lại... lúc ấy phải có cả một nghệ thuật để, xuyên qua những dấn thân ồn ào nhất, vẫn giữ được lòng mình cho Thiên Chúa, như một việc cầu nguyện được tiếp nối, một tình thân thiết không gì có thể làm tan vỡ.
 Qui Luật Đan Viện Cát-Minh qui định: “Sức mạnh của bạn ở trong thinh lặng và hy vọng”.

Nếp sống cộng đoàn: huynh đệ tỉ muội
 Cuộc sống trôi qua trong cùng một ngôi nhà. Vào những giờ nhất định, họ cùng nhau quy tụ cử hành phụng vụ trong cùng một nhà nguyện. Các bữa ăn tập họp trong cùng một phòng ăn. Khi nhóm tu nghị hoặc chia sẻ định kỳ, họ hội họp thảo luận cùng một dự tính.
 Những buổi giải trí giúp họ tạo niềm hiệp thông trong thư giãn, với những trao đổi, trò chơi, đi dạo. Các chị nữ tu nhiệt tình tham dự những buổi giải trí đó không quên mang theo giỏ đồ khâu của họ. Còn các nam tu sĩ lại thích nói chuyện thao thao bất tuyệt, trong khi vẫn cúi xuống trên các giõ mang theo để nhặt rau gọt khoai.
 Nếp sống cô tịch và cộng đoàn, hai thực thể có vẻ loại trừ nhau. Thế nhưng ngược lại chúng giúp giữ một thế cân bằng tốt đẹp cho cuộc sống. Thinh lặng và cô tịch giúp luôn nghĩ tưởng đến Thiên Chúa, tránh được cảnh lúc nào cũng loay hoay, bận rộn, tránh được những câu chuyện dài dòng vô ích, và như thế, tránh khỏi việc phung phí thời giờ và năng lực tâm linh.
 Còn đời sống cộng đoàn lại là phương thuốc tốt nhất chống lại nguy cơ sống khép kín, tự quy chiếu về mình cách ích kỷ. Đó cũng là phương thế để thường xuyên kiểm tra tính trung thực của sự tự hiến và phẩm chất của tình bác ái huynh đệ.

Vai trò Đức Trinh Nữ Maria
 Đức Mẹ Maria là “Nữ Vương Tuyệt Tác” của Đan Viện Cát-Minh. Ngay từ đầu, các tu sĩ Cát-Minh đã nhìn thấy nơi Mẹ Maria là người Mẹ, người Chị, người Bạn và là Mẫu Mực. Đức Mẹ Maria trầm lặng, “suy niệm mọi sự trong lòng”. Đức Mẹ Maria, Mẹ của Sự Sống, đang lặng lẽ ban Chúa Giêsu cho thế giới. Ở nơi phòng tiệc ly, Đức Mẹ Maria đã hiệp thông với các tông đồ đầu tiên. Phải, Đan Viện Cát-Minh quả là một “dòng thuộc Mẹ Maria”.
 Mấy nét trên đây đã vắn tắt giúp bạn thoáng thấy bầu không khí một ngày trong Đan Viện Cát-Minh. Thế nhưng, cụ thể hơn, một ngày như thế xảy ra thế nào?  
(CÒN TIẾP)

Tác giả Đỗ Tân Hưng

IV. MỘT QUI LUẬT - MỘT NẾP SỐNG


IV. MỘT QUI LUẬT - MỘT NẾP SỐNG


Hương Vĩnh
 (TIẾP THEO)
Quy Luật Cát-Minh 
Bản Quy Luật Cát-Minh đầu tiên thật tuyệt diệu! Thật đơn sơ và giản dị, như một ngôi thánh đường nho nhỏ kiểu Rôma, được tuôn tràn từ Chúa Thánh Linh...  
Vào đầu thế kỷ 13, một nhóm “anh em ẩn tu” quy tụ bên một con suối, trong một thung lũng Núi Cát-Minh, ở Palestine. Từ hằng bao thế kỷ, ngôn sứ Êlia vốn được sùng kính tại đây. Sinh quán tại Pháp, Ý, Anh, họ đã giã từ quê hương để đến Đất Thánh, nơi Chúa Giêsu Kitô đã sống.  
Một ngày kia, để đi đúng đường hướng của Giáo Hội, họ đã đến gặp Đức Thượng Phụ Giêrusalem là ngài “Albert. Họ trình bày với ngài cuộc sống họ muốn theo đuổi và xin ngài ban cho một “Luật sống”. Đó là bản luật nguyên thủy. 
Vài chục năm sau, cộng đoàn đông thêm. Đồng thời Đất Thánh dần dần bị người Hồi Giáo chiếm lại. Nhiều tu huynh quay về nguyên quán. Họ phải thích nghi với những điều kiện của cuộc sống mới ở chốn thị thành. Họ phải dùng cơm chung với nhau...  
Một bước đi mới: lần này họ đến yết kiến “Đức Giáo hoàng Innocent IV, để xin sửa đổi Quy Luật cho thích hợp. Cấu trúc nguyên thủy của nguyện đường nho nhỏ ngày nào giờ đây phải chịu một vài sửa đổi quan trọng, nhưng cảm hứng ban đầu vẫn được duy trì. Để hiểu cho đúng cảm hứng ấy, trước hết phải xướng lên một danh xưng: đó là “Thánh Danh Chúa Giêsu Kitô”.  
Thật thế, ở ngay cổng vào nhà nguyện, bạn sẽ đọc thấy: “Sống tùy thuộc hoàn toàn vào Chúa Giêsu Kitô và trung thành phục vụ Ngài với một con tim trong trắng”, tức là sống triệt để điều then chốt nhất trong ơn gọi của mọi Kitô-hữu đã nhận lãnh Bí Tích Thánh Tẩy. Không ngừng chiêm ngắm Chúa Kitô trong đức tin, để học cùng Ngài sống lụy phục trong mọi sự.  
Trung thành phục vụ Ngài, không chỉ bằng hành động mà còn bằng hiến trọn con tim. Hoạt động để mở rộng Vương Quốc Ngài cho đến tận cùng trái đất, thể theo Thánh Ý Chúa Cha. Đó là niềm khao khát hằng ngự trị trong Đan Viện Cát-Minh. 
Đó là ánh sáng soi rõ đời sống các “tu huynh ẩn sĩ”. Họ đã sống trong cô tịch của Núi Cát-Minh; giờ đây, họ cũng được gọi sống như thế giữa lòng các thành thị.

Nếp sống ẩn tu 
Ước gì mỗi người hãy sống cô tịch trong phòng mình, ngày đêm gẫm suy Luật Chúa và tỉnh thức cầu nguyện, ngoại trừ khi bận công việc khác cách chính đáng”. Các ẩn sĩ được gọi sống cô tịch để cầu nguyện liên lỉ. Xin hãy hiểu cho đúng điều nầy. Vấn đề không phải là luôn tưởng nhớ đến Chúa bằng trí óc. Bởi vì, như thánh Têrêxa của Chúa Giêsu đã dạy, để tiến tới trên con đường cầu nguyện, “không phải là nghĩ tưởng nhiều mà là yêu mến nhiều”.  
Cầu nguyện liên lỉ, trước hết là trong mọi hoàn cảnh đều liên lỉ quy hướng tâm hồn về Đấng mình yêu. Đó là một ơn mà Chúa ao ước ban cho những ai sẵn sàng đón nhận. 
Là ẩn sĩ, họ cũng sống với nhau như anh em. Họ đã là anh em nhờ phép Thánh Tẩy. Nay họ càng trở nên anh em ngày một hơn nữa. Mỗi ngày việc cử hành Thánh Thể quy tụ họ lại và xây dựng họ thành cộng đoàn. Họ kết hợp nhau nhờ sự dự phần vào lời nguyện ngợi khen và chuyển cầu của Giáo Hội.  
Qua các buổi gặp gỡ trao đổi, họ cũng tìm hiểu rõ hơn sự cao cả và những đòi hỏi của ơn gọi. Họ cùng nhau thực hiện một kinh nghiệm. “Họ giúp nhau sửa lỗi và bổ túc những thiếu sót của mỗi người”. Việc này nếu được thực hành trong đức ái, sẽ là cách rất tốt để giúp khám phá ra “tất cả đều là anh em”, bởi vì tất cả đều là đối tượng của lòng thương xót Chúa.

Bốn đặc điểm của nếp sống ẩn tu 
1- Trước tiên, bạn vào dòng Cát-Minh, không phải để có một cuộc sống yên ổn. Bởi lẽ đã quyết sống trong Chúa Giêsu Kitô thì không thể nào không đương đầu với cuộc “chiến đấu tâm linh. Vũ khí cần dùng, chính là những điều mà thánh Phaolô đã kể ra: tin tưởng và hy vọng, tìm cách yêu mến Thiên Chúa và người thân cận trong mọi hoàn cảnh và không ngừng nương tựa vào Lời Thiên Chúa. 
2- Bạn cũng còn phải “lao động (ban đầu chỉ có lao động chân tay, nhưng về sau cũng có lao động trí óc và làm việc tông đồ), vừa để chiến đấu tốt hơn, vừa để “ăn tấm bánh, chén cơm, do tay mình làm ra”. 
3- Bầu khí thông thường sẽ là “thinh lặng, với mức độ nhặt nhiệm tùy theo từng thời điểm trong ngày. Dù sao, rõ ràng bạn được kêu gọi đừng để tâm trí bị phân tán vào những chuyện vô ích và hãy nghiệm ra rằng, “ở trong thinh lặng và hy vọng” mà bạn múc được sức mạnh. 
4- Sau hết, cần đặt mối tương quan giữa vị “Tu Viện Trưởng” – người chịu trách nhiệm về cộng đoàn – với các anh em, dưới dấu chỉ của Đức Tin. Vị Tu Viện Trưởng phải đặt mình “làm tôi tớ các anh em” như Chúa Giêsu Kitô. Phần các anh em khác, phải nhìn vị Tu Viện Trưởng như người được Chúa Kitô đặt trên họ để giúp họ đáp lại ơn gọi. 
Sau cùng, xin bạn đừng bao giờ tự nhủ: “Đã tạm đủ rồi!”, bởi lẽ tình yêu không có giới hạn. Còn phải hành động cách khôn ngoan và biết nhận định đúng, con tim hướng về Chúa Giêsu Kitô, trong niềm mong đợi Ngài trở lại. 
Hởi các Bạn Trẻ, xin đừng ngại ngùng đọc nguyên văn bản Quy Luật. Chỉ cần mười phút là đọc xong. Ngôi nhà nguyện nhỏ bé kiểu Rôma ấy hẳn có những chi tiết khiến bạn ngạc nhiên, mang dấu vết của thời quá khứ. Thế nhưng nếu bạn lưu lại trong đó ít lâu, nếu bạn suy gẫm bản văn, bạn sẽ hiểu rõ hơn nếp sống đã được Thánh Thần tác động, nếp sống Cát-Minh hôm qua và hôm nay. 
Tu huynh Dominique Stercks
Đan sĩ Cát-Minh 
(CÒN TIẾP)

Tác giả Đỗ Tân Hưng

III. CÁT MINH - CHÂN TRỜI TRƯỚC MẶT


III. CÁT MINH - CHÂN TRỜI TRƯỚC MẶT


Hương Vĩnh
 (TIẾP THEO)
Vào năm 2000, đứng trước ngưỡng cửa ngàn năm thứ ba, một nhóm đan sĩ trẻ tuổi Cát-Minh đã có một cái nhìn về “chân trời” mới đang mở ra trước mặt. Họ đã ghi lại những tâm tình đó trong tập sách nhỏ, nhan đề “CARMEL – HORIZON 2000” (CÁT-MINH – CHÂN TRỜI 2000).
 Mục đích của các đan sĩ trẻ tuổi Cát-Minh đó là muốn chia sẻ với các bạn trẻ - nam cũng như nữ - nếu họ cảm thấy tiếng Chúa vang động trong lòng mình, muốn dấn thân trên hành trình chiêm niệm.

Cát-Minh: chân trời nào?
 Nhân loại đã bước vào ngàn năm thứ ba. Có gì mới lạ dưới ánh mặt trời của thời hiện đại? Một sự gia tốc khủng khiếp không ai còn kiểm soát nổi... Hòa bình thế giới: bị đe dọa vượt mực! Thất nghiệp: không hề bị chặn đứng!... Tiến bộ: đem lại thứ tự do nào?
 Dù không quá dễ bi quan, người ta vẫn phải nhìn nhận rằng: chân trời đang bị bít kín. Người ta đang đi về đâu với những máy vi tính và các hỏa tiễn? Từ khắp nơi trên thế giới, biết bao người đang khẩn cấp kêu cứu cho tình thương và hòa bình...Mà có ai nghe họ?
 Cùng với ngần ấy thứ, còn có nỗi “khao khát được sống” đang xâm chiếm tận đáy lòng con người... bởi vì người ta đã được tạo dựng “để sống”! Người ta cần yêu và cần được yêu biết bao! Nhưng làm thế nào để biến đổi đời người thành một cuộc sống “yêu thương”? Đi đâu? Yêu ai? Biết bao lần các ảo ảnh đã làm ta thất vọng, và ta muốn tìm kiếm một Khuôn Mặt... khuôn mặt đẹp nhất trong mọi khuôn mặt.
 Không biết Thiên Chúa đã đi qua cõi lòng bạn không? Và Vẻ Đẹp của Ngài có “chớp sáng” bạn không? Ngài có ghé vào “ngưỡng cửa tâm hồn vô hình của bạn” và khẽ hát bản tình ca: “Con là độc nhất dưới đôi mắt Cha và Cha yêu con... Cha muốn là tất cả đối với con ... Con hãy đến, hãy đến, hãy đến, hãy sang bên kia bến bờ lòng con... Cha gọi tên con, Cha chờ đợi con... Cha cần trái tim con cho Giáo Hội. Cha cần đôi mắt con cho thế giới. Cha cần đôi bàn tay con cho những người nghèo... Con hãy đến!...”
 Phải, bằng cách này hay cách khác, tất cả chúng ta đều được mời gọi…Nhưng ở đâu?

Hãy đứng lên và tiến về hướng mặt trời...
 Khi ngõ lời với các người trẻ ở Gerland, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã dành lời này cho bạn: “Hãy đứng lên và tiến bước, đừng tự giam mình trong những yếu hèn và hoài nghi. Hãy đứng thẳng lên mà sống!”
 Điều mà một người mặc sắc phục màu trắng đã loan báo, thì một ngôn sứ đã sống điều đó hơn 800 năm trước Chúa Giêsu Kitô... tên ngài là Êlia. Một hôm, Thiên Chúa bảo ông: “Ngươi hãy rời khỏi đây, tiến về hướng Đông và ngụ lại bên ngọn suối Kerit ở hữu ngạn sông Jourdain. Ở đó ngươi sẽ uống nước suối” (1 R 17, 3-4). Có liên hệ gì giữa bạn và vị ngôn sứ ấy của Thánh Kinh?
 Thật đơn giản và bao la vĩ đại: Một nỗi khao khát cõi vô biên... bởi vì tiến về hướng Đông là tiến về phía Mặt Trời: mặt trời mọc ở hướng đông. Êlia đã tiến về phía ánh sáng, bỏ lại tất cả sau lưng. Thiên Chúa đã gọi ông sống một thân một mình với Ngài... Ngày kia, Ngài sẽ sai ông trở về giữa lòng Ít-ra-en dân Ngài để làm chứng nhân.
 Nhưng điều cốt yếu là sự Hiện Diện của Thiên Chúa. Êlia đã vui hưởng nơi nguồn suối niềm Vui của Thiên Chúa. Ông biết đâu là mạch suối luôn tươi mát. Và đó là tinh thần Cát-Minh, tinh thần đã luôn nhận ra mình nơi cuộc tìm kiếm ấy của Êlia. Nếu bạn cũng đang tìm kiếm... Cát-Minh sẽ làm bạn thỏa lòng.

Chân trời Cát-Minh
Một sự hiện diện trong đêm tối
 Ngày 02-11-1535: rạng đông nở rộ trên thành phố Avila. Một thiếu nữ rời nhà tiến về đan viện Cát-Minh trong thành phố. Tên nàng là gì? – Têrêxa. Tuổi tác của nàng? – 20 tuổi. Điều gì khiến nàng kiên quyết rảo bước như thế?
 Có phải đan viện với những cửa chắn song sắt? Hay nàng đang chạy trốn một nỗi thất vọng? Không, Têrêxa đang săn đuổi Tình Yêu... Têrêxa đang theo đuổi một Đấng nào đó: lòng nàng đớn đau tan nát, nhưng nàng quyết bỏ hết tất cả vì một Khuôn Mặt. Nàng quên mình vì một sự Hiện Diện.
 Nàng dâng hiến đời mình cho “Đấng mà nàng biết là đã yêu nàng”. Một ngày kia, nàng thú nhận: “Tôi đã chán ngán xúc phạm Ngài hơn là Ngài chán ngán yêu thương tôi”. Nàng sẽ được gọi là “Têrêxa của Chúa Giê-su”.
 “Chúa ôi! Chúng ta cùng đồng hành…
Nơi nào Chúa sẽ đi, con xin đi theo,
Nơi nào Chúa sẽ qua, con xin qua theo…”
(Thánh Têrêxa Avila)
 Ngày 13-12-1591, lúc 10 giờ tối, trong tu viện Cát-Minh nhỏ bé ở Ubêda. Ốm đau, kiệt lực, cha “Gioan Thánh Giá” biết rằng Sự Sống sắp chấm dứt... Cha luôn hỏi giờ người anh em đang canh thức giữ cha. Thời gian trôi qua và sắp đến nửa đêm. Cha Gioan cầu nguyện lớn tiếng và dọn mình: cha sắp được “nhìn thấy Thiên Chúa”.
 Chợt nghe tiếng chuông báo hiệu giờ kinh sáng tinh sương, cha reo lên mừng rỡ: “Chúc tụng Chúa! Hôm nay tôi sẽ hát kinh sáng trên Trời!” Cha đặt môi hôn cây thánh giá đang cầm trên tay và trang trọng thốt lên: “Trong tay Ngài, lạy Chúa, con xin phó thác linh hồn con!”...rồi cha tắt thở. Hôm đó là ngày 14-12-1591 và cha Gioan Thánh Giá thọ 49 tuổi. Có lần, cha đã viết: “Tại sao bạn còn chần chừ? Tại sao bạn còn lần lữa? Bởi lẽ ngay từ lúc này, bạn đã có thể yêu mến Thiên Chúa tận cõi lòng mình"
 “Ở trong đêm được chúc phúc…
không đèn đuốc, không người hướng dẫn,
ngoại trừ ánh sánh tỏa rạng trong linh hồn tôi…”
(Lên Núi Cát-Minh
Thánh Gioan Thánh Giá)
  
Chân trời Cát-Minh
Một ánh mắt, một khuôn mặt
 Ngày 08-08-1878, ở Trouville, một bé gái dừng bước đối diện đại dương. Đứng im bất động, em nhìn ngắm mặt trời lặn. Em còn đứng đó lâu giờ nhìn ngắm chân trời... Bất chợt, đôi mắt tâm hồn em mở ra chiêm ngắm một vẻ đẹp khác... và từ đáy lòng, em nảy sinh một quyết định chan chứa tình yêu: “Tôi sẽ không bao giờ để cho hồn mình rời xa Ánh Mắt của Chúa Giêsu”.
 Têrêxa đã được sinh ra từ ánh mắt đó. Nàng sẽ là một nữ tu Cát-Minh ở Lisieux. Mặt Trời của nàng sẽ không bao giờ lịm tắt... Trong niềm tin đó, nàng sẽ sống như nàng nói: “Bên kia các từng mây, mặt trời của tôi mãi mãi rực sáng!
 Tại sao Ánh Mắt đó lại có thể khiến người ta từ bỏ tất cả? Làm sao khuôn mặt đó lại có thể quyến rũ đến như vậy? Bạn hãy nghe người trẻ Élisabeth của Chúa Ba Ngôi: “Ngài là Đấng Vô Biên của tôi. Nơi Ngài, tôi yêu, tôi được yêu, và tôi có tất cả... Trong Ánh Mắt Ngài, chân trời trở nên thật đẹp, thật mênh mông và sáng lán làm sao...”
 Lời đó có giúp bạn cảm nghiệm thêm được chút nào mối huyền nhiệm của Cát-Minh không? Sắp đến năm 2000, chân trời Cát-Minh không thay đổi: đó là một vầng thái dương không bao giờ lặn, một Khuôn Mặt không hề tàn phai, một Ánh Mắt không bao giờ rời xa... một Sự Hiện Diện mà ở đó bạn nhận lại được tuổi thơ của mình.
 Tu huynh Marie Michel
Đan-sĩ Cát-Minh 
(CÒN TIẾP)

Tác giả Đỗ Tân Hưng

II. ĐAN VIỆN CÁT MINH SÀI GÒN


II. ĐAN VIỆN CÁT MINH SÀI GÒN


 Hương Vĩnh
 (TIẾP THEO)
Xuất phát từ Dòng Kín Lisieux
 Đan Viện Cát-Minh Saigon là đan viện đầu tiên ở Việt-Nam và cũng là đan viện đầu tiên nơi các xứ truyền giáo, xuất phát từ nhà Kín Lisieux.
 Năm 1861, từ dòng Kín Lisieux, miền Normandie nưóc Pháp, bốn nữ tu kín đã từ giã quê nhà, ra đi vì một chí hướng truyền giáo cao cả. Ngày 9-10-1861, bốn chị truyền giáo sống đời chiêm niệm đó đã đặt chân lên nước Việt Nam – một quê hương được mệnh danh là “đất của một trăm ngàn vị Tử Đạo”.
 Chính Chúa Quan Phòng đã tiền định dòng Kín Lisieux trong sứ mệnh thành lập một đan viện tiên khởi của Xứ Truyền Giáo. Và 27 năm sau đó, bé gái Têrêsa Martin đã vào tu dòng Kín Lisieux và trở thành Chị Thánh Têrêsa. Chị mang một khát vọng được sang Sàigòn, ngay lúc còn ở Tập Viện. Sau nầy chị đã được đặt làm “Quan Thầy các xứ truyền giáo” đồng tước vị với Thánh Phanxicô Xavier thuộc dòng Tên.

Mẹ Philomène de l’Immaculée Conception và Đức Cha Lefèbre
 Vào thời đó, một thỉnh sinh được chấp nhận vào Nhà Kín Lisieux: đó là chị “Philomène de l’Immaculée Conception” (Vô Nhiễm Nguyên Tội). Chị là em họ của “Đức Cha Lefèbre”, Giám Mục tại Miền Tây Nam Kỳ, tức miền Nam nước Việt ngày nay.
 Ngày 27-8-1844, chị được lãnh Tu Phục, và cùng năm ấy, người anh họ của chị – Đức Cha Lefèbre – đã bị Triều Đình Huế bắt giam ngày 31-10-1844. Đến tháng tư năm 1845, nể lời yêu cầu của Bộ tư lệnh Hải Quân Pháp, Vua Thiệu Trị hạ chỉ phóng thích Đức Cha và trục xuất ngài sang Singapore.
 Vào hạ tuần tháng năm 1846, Đức Cha bí mật trở lại Việt Nam, trên một chiếc thương thuyền chở xi măng, nhưng vừa cập bến Sàigòn, nhân viên Thương Chính đã bắt được, và sau đó Ngài lại bị giải về Huế.
 Chính nơi lao xá ở đây, đang lúc cổ mang gông, tay mang xiềng, chờ ngày ra lãnh án bá đao, bỗng một hôm, Đức Cha thấy Thánh Têrêsa Avila hiện đến “trong một thị kiến”. Mẹ Thánh Têrêsa Avila đã thỉnh cầu Đức Cha Lefèbre với những lời lẽ như sau: “Hãy thành lập Dòng Kín trên nước ‘An-Nam’, vì nhờ đó Thiên Chúa sẽ được phụng sự và tôn kính không ít.”
 Cũng chính nơi đề lao này, Đức Cha nhận được một lá thư của nữ tu Philomène, cho biết chị được Khấn Dòng trong tháng hai vừa qua (1846). Phải chăng lời thỉnh cầu thành lập dòng Kín tại Việt-Nam đã gián tiếp nói cho vị truyền giáo biết cuộc đời của Ngài chưa chấm dứt tại nơi lao xá này?
 Một lần nữa Đức Cha Lefèbre được vua Thiệu Trị phóng thích và trục xuất sang Singapore như lần trước. Vẫn ý chí cương quyết như cũ, năm 1847, ngài đã thành công trở về sống giữa đoàn chiên, nhưng phải lẩn trốn, nay làng này, mai làng khác.
 Vua Tự Đức kế ngôi Vua Thiệu Trị, lúc đầu tỏ ra khoan hồng với đạo Công Giáo mà thời bấy giờ gọi là “Tả Đạo”, nhưng sau đó ít lâu, nhà Vua hạ chỉ bách hại và truy nã Kitô hữu rất gắt gao.

Ý muốn xây dựng nhà Kín Saigon

Mãi đến năm 1849, Đức Cha mới phúc đáp lá thư của nữ tu Philomène. Ngài tỏ bày ao ước thành lập dòng Kín tại Việt-Nam. Ngài nhắc lại lời nói về Thánh Nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu: Nhờ nước mắt và lời cầu nguyện, Thánh Nữ đã cứu rỗi các linh hồn cũng bằng vị Tông Đồ Cả của xứ Ấn Độ, qua lời giảng dạy và các phép lạ...
 Vừa nhận được thư của Đức Cha, Mẹ Bề Trên dòng Kín Lisieux lúc bấy giờ là Mẹ Geneviève, cũng là vị sáng lập dòng này, với một đức tin dũng mãnh và một lòng truyền giáo bao la, Mẹ bảo chị Philomène trả lời ngay cho Đức Cha là Mẹ rất hân hạnh đáp lại lời yêu cầu của Đức Cha.  
 Tuy nhiên mãi đến năm 1861, dư định trên mới thực hiện được, mặc dầu tình hình cấm đạo lúc đó vẫn chưa yên, ngược lại, càng ngày càng thêm sôi nỗi, đầy cực hình. Chính Đức Cha đã ghi lại vào khoảng tháng 5-1859 rằng: “Tôi chưa bao giờ thấy, chỉ trong vòng một năm mà số người tuyên xưng Đức Tin và chịu tuẫn giáo quá nhiều như năm nay. Họ phải chịu trăm ngàn đau khổ, dưới gông cùm, trăng trói…”
 Cũng chính năm 1861 – năm thành lập dòng Kín Sàigòn – Nhà Vua hạ lệnh phân sáp tất cả các gia đình Công Giáo.
 Cần đọc qua những trang sử oai hùng của các Đấng Tử Đạo Việt Nam trong thời hậu bán thế kỷ XIX, ta mới có thể hiểu được hai vị lập dòng Kín Saigon – Đức Cha Lefèbre và Mẹ Philomène – là những tâm hồn anh dũng, sắt đá, trung kiên, với niềm Tin mãnh liệt và chí hướng truyền giáo đến mức độ nào.

Đặt chân lên đất Saigon (1861)
Sau 90 ngày lênh đênh trên mặt đại dương, bốn nữ tu dòng Kín sung sướng nhìn thấy thành phố Sàigòn, thủ đô miền Nam nước Việt sau nầy. Thật ra lúc bấy giờ Sàigòn không hẳn là một thành phố, mà chỉ là một đô thị gồm 40 làng nhỏ ở kế cận nhau.
 Ngoài thành của Vua Minh Mạng ra, Sàigòn không có một dinh thự nào, cũng không một nhà nào được xây cất bằng gạch! Nhưng thành Vua Minh Mạng đã bị phá hủy từ hai năm trước.
 Mẹ Philomène viết: "Ngày 9-10-1861, chúng tôi đặt chân lên đất An-nam, đất đã thấm nhuần máu của bao vị Tử Đạo; từ đây đất này sẽ trở nên Quê Hương yêu quý của chúng tôi".
 Đồng hành với 4 nữ tu Kín có 10 nữ tu dòng Thánh Phaolô. Vì thế, tàu vừa cập bến, các nữ tu được các Cha Thừa Sai và Mẹ Benjamine – bề trên các nữ tu dòng Thánh Phaolô – ra tận bến tàu đón tiếp và đưa về Tòa Giám Mục. Khó tả được niềm vui của Đức Cha khi giáp mặt bốn nữ tu Kín. Ngài nói: "Các con quý mến, Cha đã chờ các con từ bao năm qua!...".

Những ngày đầu tiên
 Mẹ Philomène ghi lại như sau: "Đức Cha đích thân đưa chúng tôi đến căn nhà Ngài đã dọn sẵn cho chúng tôi (hiện nay là phía chợ Cũ). Căn nhà rộng rãi, có một lối đi chính giữa chia làm hai gian, phân nửa dành cho các nữ tu dòng Thánh Phaolô, còn chúng tôi chiếm phân nửa còn lại".
 Về sau, khi nói về căn nhà này, nữ tu Thánh Xavier (một trong bốn nữ tu Kín) viết: "Đó là một trong những nhà tốt nhất xứ này, nhưng xây cất trên khoảnh đất quá lầy lội.” Và Mẹ Philomène thì viết: "Một căn nhà bất tiện cho chúng tôi mọi bề.
 Tuy nhiên, vừa đến nơi, cả bốn nữ tu Kín liền tra tay thu xếp, lấy vải bố ngăn ra làm Nhà Nguyện, phòng khách, phòng cơm, nhà bếp, phòng riêng v.v.  ... duy có "bàn xoay" là phức tạp vì mấy người thợ mộc chưa hề thấy, chưa hề nghe và cũng không sao giải thích cho họ hiểu được!
 Ngôi nhà nhỏ đã tạm chỉnh đốn xong. Ngày 15-10-1861 Lễ Thánh Têrêxa, Đức Cha Lefèbre thân hành đến dâng Thánh Lễ và ban phép cho các nữ tu Kín được giữ Mình Thánh Chúa luôn trong nhà Nguyện. Đây là lần đầu tiên nước Việt-Nam được đặc ân này.
 Từ nay, dưới sự Hiện Diện của Chúa Giêsu Thánh Thể, cuộc đời chiêm niệm với niềm vui bất tận, lòng tín thác hoàn toàn vào Chúa  cùng với chí hướng tận hiến vì vinh danh Chúa, vì phần rỗi tha nhân, bắt đầu triển nở nơi đan viện bé nhỏ này, trên quê hương Việt Nam thân yêu này.

Những thử thách đầu tiên
 Đường khổ giá vẫn luôn luôn là bước đường của những ai thành tâm phụng sự Chúa. Chúa Giêsu đã chẳng phán: "Ai muốn theo Tôi, thì phải bỏ mình, vác khổ giá mình và theo Tôi!" Tuy nhiên, khi đọc lại những thử thách, những đau khổ của Mẹ Philomène và các nữ tu đầu tiên phải chịu, người ta phải thành thật công nhận, đó là những vị anh hùng.
 Quý danh bốn nhà truyền giáo sống đời chiêm niệm đó là:
- Mẹ Philomène de L'Immaculée Conception
- Nữ tu Marie Baptiste (Phó bề trên)
- Nữ tu Emmanuel
- Nữ tu Saint Xavier
 Mặc dầu Đức Cha Lefèbre tìm mọi phương cách để thành lập dòng Kín trên nước Việt Nam, nhưng ngoài Đức Cha ra, hàng giáo sĩ lúc bấy giờ không mấy ai tán đồng dự định ấy! Tuy không dám phản đối Đức Cha, nhưng các ngài cho rằng đó là một việc thiếu khôn ngoan: trong giai đoạn này, nên thành lập những tu hội hoạt động thì hữu ích hơn. Trên bình diện tự nhiên, các ngài rất hữu lý, vì các sử liệu đã minh chứng những gì các ngài tiên đoán.
 Căn nhà Đức Cha đã cất cho, không thể tái thiết thành Đan Viện được. Vì vậy, nhờ một đại tá người Tây-Ban-Nha giới thiệu, nhà cầm quyền hứa nhường cho Mẹ Philomène một khu đất rộng, địa thế rất tốt, nằm trên đường đến thành Vua Minh Mạng, thời ấy người Pháp gọi là "Boulevard de la Citadelle", tức  "Đại lộ Cường Để" ngày nay.
 Nhưng khổ nỗi trên khu đất này không có nhà cửa gì hết.  Tất cả đều phải xây cất, mà gia tài của các nữ tu chỉ vỏn vẹn 1800 quan. Phần Đức Cha, ngài không hề dự tính những phí tổn cần phải có để kiến thiết, thành lập một đan viện theo Quy Luật dòng Kín...
 Thêm vào đó, một cơn thử thách tinh thần rất trầm trọng: vì không hợp khí hậu và vì đời sống quá kham khổ, sau ba tháng chịu đựng, nữ tu Emmanuel đã ngã bệnh, bác sĩ khuyên chị nên trở về Pháp, và nữ tu Marie Baptiste quá chán nản trước những thử thách cả tinh thần lẫn vật chất.
 Và một trong những khó khăn đó là vấn đề ngôn ngữ bất đồng! Thời đó chưa có cuốn tự điển hoặc giáo sư để trau dồi học hỏi tiếng Việt, nhưng các thỉnh sinh đến xin nhập tu mỗi ngày mỗi thêm đông.
 Phần nhiều các chị là con cháu của những Đấng Tử Đạo, cũng có chị đã tuyên xưng Đức Tin và từng mang gông cùm vì Danh Chúa. Các chị rất can đảm, rất nhiệt thành, nhưng các chị không được huấn luyện và học vấn đầy đủ, nhất là thụ huấn nền văn hoá Tây phương.
 Tuy nhiên, tinh thần cầu nguyện, bầu khí trầm lặng, nếp sống khắc khổ của dòng Cát-Minh rất thích hợp với các chị. Hơn nữa, nhờ ơn Chúa, nhờ lòng nhân hậu và sự kiên nhẫn của các Mẹ, các tập sinh Việt-Nam đầu tiên đã thành công trên con đường dấn thấn trong đời sống chiêm niệm, cuộc đời truyền giáo trong thinh lặng và hy sinh.

Kiến thiết Đan Viện
 Để có đủ tài chánh trong công cuộc kiến thiết và trùng tu đan viện, Mẹ Philomène phải thức thâu đêm viết thư xin toàn thể gia đình Cát-Minh tại Pháp trợ giúp. Trong dịp này, tinh thần đoàn kết hỗ tương của đại gia đình dòng Kín cũng như lòng nhiệt thành truyền giáo của các nữ tu Kín được chứng quả bằng việc làm cụ thể. Các dòng đã tỏ ra rất quãng đại đáp lời Mẹ Philomène.
 Phần Đức Cha Lefèbre, ngài ủy thác việc xây cất này cho một cha thừa sai: cha Pierre ROY.Cha này trước kia hoạt động ở miền đông Nam Việt, sau bị trục xuất sang Singapore. Tại đây cha có dịp gặp hai nữ tu Kín hồi hương trong tháng giêng vừa qua.  Cuộc gặp gỡ đó gây cho cha một ấn tượng không mấy tốt đẹp về việc thành lập Dòng Kín Saigòn. Nhưng Ý Chúa nào ai hiểu thấu.
 Ngay buổi chiều cặp bến Saigon, tháng hai 1862, cha được giao cho trọng trách mà từ trước cha vẫn đố kỵ. Và sáng hôm sau, cha đến dâng Thánh Lễ tại Dòng Kín. Dưới đây là câu chuyện giữa mẹ Philomène và cha ROY trong buổi sáng lịch sử đó:
 Sau Thánh Lễ, đợi cha cám ơn xong, mẹ Philomène mời cha qua phòng khách. Phần mẹ không khỏi lo sợ vì biết cha này không tán đồng công việc lập Dòng của mình. Câu chuyện bắt đầu rất lạnh nhạt. Cha vô đề bằng câu khuyên mẹ Philomène nên trở về Pháp là hơn. Mẹ Philomène trả lời:
 - Thưa Cha, các Bề Trên của con gửi con đến đây để thành lập một Đan Viện theo Quy Luật Dòng Thánh chúng con; con sẽ tận dụng hết mọi khả năng để đạt tới thành công, và con chỉ có thể chịu khuất phục khi không còn một tia hy vọng nào nữa.
 - Nhưng Mẹ có chắc rằng ở đây Mẹ sẽ giữ trọn lời Khấn như ở Pháp không?
 - Thưa Cha, con thấy không có chi trở ngại cả. Khắp nơi đều có thể Vâng Phục, đều có thể giữ Trinh Khiết, còn về lời Khấn Khó Nghèo, con thiết tưởng không nơi nào trên thế gian này có thể giúp chúng con thực thi Đức Khó Nghèo bằng ở đây, vì ở đây tất cả đều thiếu thốn, cả tinh thần lẫn vật chất...
 Câu nói chân thành cảm động này có năng lực biến đổi thành kiến và cảm hóa được vị linh mục thừa sai. Cha ROY dịu giọng đáp: “Nầy Mẹ, vậy Mẹ cứ ở lại đây, tôi sẽ tận lực cộng tác với Mẹ trong công việc kiến thiết Đan Viện của Mẹ. Mẹ hãy  tín nhiệm nơi tôi.”
 Mẹ Philomène hết sức ngạc nhiên và cảm động trước sự thay đổi bất ngờ của cha. Từ ngày đó, cha khởi công tra tay vào việc. Cha vừa là kiến trúc sư, vừa kiêm chức thợ hồ, vừa chỉ huy đoàn thợ trong từng chi tiết. Chỉ trong vòng ba tháng, tường thành Nội-Vi và mấy dãy nhà nhỏ xứng hợp cho một nữ đan viện đã thành hình.
 Ngày Lễ Thánh Tâm năm 1862, Đức Cha Lefèbre hân hoan đến dâng Thánh Lễ khánh thành Đan Viện mới, đặt dưới sự bảo trợ của Thánh Giuse. Ai có thể tả được tâm tình của mẹ Philomène trong ngày hồng ân ấy như thế nào?  Tiếng nói người phàm tốt hơn nên thinh lặng, nhường cho tiếng lòng tri ân sâu thẳm của Mẹ Philomène nói lên trong thầm lặng trước Thánh Nhan Chúa, chẳng những ngày hôm đó, mà suốt đời Mẹ và qua Mẹ, lòng tri ân luôn luôn sống động trong lòng con cái của Mẹ qua các thế hệ.
 Quả thật, trên đường phục vụ Chúa, cùng với những đau khổ thử thách tất nhiên không sao tránh khỏi. Thiên Chúa là Người Cha nhân lành luôn tỏ ra ưu ái, nâng đỡ tất cả những người thành tâm thiện chí.
 Tóm tắt, người ta có thể ghi lại nơi đây lời nói bất hủ của Mẹ Philomène: "Có lẽ sau này các con sẽ không bao giờ gặp phải những thử thách mà Mẹ đã trải qua. Mẹ chưa thuật lại được một phần mười, nhưng Mẹ mau mau thêm rằng: tâm hồn Mẹ luôn bình an, thứ Bình An thâm sâu trong Chúa ".
 Lời yêu cầu của Mẹ Thánh Têrêsa Avila: "Hãy thành lập dòng Kín trên nước ‘An- nam’" đã được thực hiện từ trên thế kỷ nay, còn lời hứa hẹn tiếp theo của Người: "...Nhờ đó Thiên Chúa sẽ được phụng sự và tôn vinh không ít" thì sao? ... Phụng sự Chúa và làm cho Chúa được tôn vinh chắc hẳn phải là tiêu chuẩn của đời sống những nữ tu dòng Kín – những người con của Thánh Nữ Tiến Sĩ Têrêxa Avila. Nguyện xin Mẹ Thánh giúp họ trung thành với lý tưởng Dòng Cát-Minh để nguyện vọng của Mẹ được thành tựu. 
(CÒN TIẾP)

Tác giả Đỗ Tân Hưng

I. ĐAN VIỆN CÁT MINH DOLBEAU


I. ĐAN VIỆN CÁT MINH DOLBEAU


Hương Vĩnh
 (TIẾP THEO)
Một Đan Viện ở gần miền cực Bắc
 Đan Viện Cát-Minh Dolbeau-Mistassini, ở cách Montréal về hướng bắc, khoảng tám giờ xe hơi. Đây là một nơi đèo heo hút gió, rất ít người Việt đặt chân đến đó, ngay cả người dân bản xứ cũng thế.
 Đường lên Dolbeau tuy không hiểm trở, nhưng càng lên miền cực bắc, dân chúng càng thưa thớt, làng mạc rải rác, với những cánh đồng ngút ngàn: một cảnh trí trầm buồn và thanh vắng! Về mùa đông tháng giá, quang cảnh ở đó càng trở nên tiêu điều buồn bã: trời mù mịt dù giữa ban ngày, với tuyết phủ dày đặc.
 Địa chỉ Đan Viện
 Monastère des Carmélites de Dolbeau
2720 Boulevard Walberg
Dolbeau-au-Mistassini  G8L-1L2
CANADA
Điện Thoại: (418) 276-0259

Quang cảnh nhà Dòng
Đan Viện Dolbeau với lối kiến trúc không giống những nhà dòng kín khác. Đan Viện nằm ngay bên quốc lộ. Khi mới thành lập, nơi đây là một khu vực “đồng không mông quạnh”. Nhưng về sau, dân chúng nhận thấy bầu không khí yên tĩnh bao quanh nhà Dòng khiến ngay cả những tên đạo tặc cũng phải xa lánh nên họ đã đổ về đây và xây cất nhà ở chung quanh. Vì vậy, chính phủ đã phóng một quốc lộ ngang qua trước mặt nhà Dòng.
 Từ quốc lộ vào Đan Viện là một sân cỏ khá rộng. Sân cỏ nầy thuộc “Ngoại Vi” nhà Dòng, với những cây cao bóng mát và những bồn hoa muôn màu giữa cảnh mùa hè. Thông thường những “dòng kín” được bao bọc chung quanh bởi một bức tường kín mít khá cao, biệt cách đan viện với cảnh trí bên ngoài. Tại Dolbeau, sau khi đi qua sân cỏ khá rộng nói trên mới đến khu vực chính của Đan Viện gồm mấy dãy nhà với cửa đóng kín mít, và khu vườn rất rộng phía sau.
 Ngoại trừ dãy nhà ở mặt tiền, gồm nhà nguyện, phòng tiếp tân, phòng dành cho khách vãng lai… một hàng rào kẽm gai khá cao bao bọc phần “Nội Vi” nhà Dòng, gồm những dãy nhà còn lại với khu vườn rất rộng, chằng chịt những hàng cây cao thấp lớn nhỏ, chen chúc nhau cho đến tận bờ sông rất xa không trông thấy. Một ngọn thác đổ nước ào ào ở bên kia sông, nhưng vì quá xa nên đứng trước Đan Viện, không nghe tiếng thác đổ.

Nhà Nguyện
 Thánh lễ bắt đầu lúc 8 giờ 30 sáng. Trước đó có giờ kinh sáng dành cho các nữ tu. Nguyện đường nhỏ bé xinh xinh. Lối kiến trúc rất đơn sơ, khác với những nhà dòng kín khác. Thông thường Nhà Nguyện của đan viện Cát-Minh được bao quanh bởi bốn bức tường kín mít, không có cửa sổ. Ở đây, một töôøng baèng kieáng cao ñoä nửa thước chạy dài trên bức tường bao quanh Cung Thánh Nhà Nguyện. Nhờ lối kiến trúc đó, người ta có thể nhìn thấy những ngọn thông xanh xanh ở bên ngoài mà không làm chi phối sự yên lặng bên trong.
 Linh mục Tuyên Úy dâng Thánh Lễ mỗi sáng là một cha dòng thuộc Đan Viện Xitô Mistassini ở cách đó trên mười mấy cây số. Thánh Lễ cũng đơn giản phù hợp với cảnh trí của Nhà Nguyện Đan Viện.
 Trước Thánh Lễ, linh mục chủ tế chia sẻ vài lời vắn tắt với cộng đoàn – gồm các nữ tu và những giáo dân sống quanh vùng – về những bài đọc trong Thánh Lễ hay những gợi ý liên quan đến cuộc đời của vị thánh được mầng kính trong ngày. Vì vậy, sau khi đọc bài Phúc Âm, thay vì thuyết giảng, linh mục chủ tế cùng các nữ tu và giáo dân ngồi trong thinh lặng để mỗi người suy niệm riêng tư trong đôi ba phút.

Các nữ tu ở Đan-Viện
 Trước đây có sáu nữ tu người Canada (gốc Pháp) và sáu nữ tu người Việt, nhưng một chị vừa mới từ trần giữa mùa hè vừa qua: đó là chị Anna Nguyễn Thị Quý, 97 tuổi.
 Về phía các nữ tu Việt-Nam, ngoài hai chị tương đối còn trẻ - trên dưới năm mươi tuổi – ba chị còn lại đã lớn tuổi, trong đó có một chị già yếu. Ba chị nầy vốn là những nữ tu thuộc nhà Kín Hà Nội trước kia đã sang đây cùng với một số chị khác – nay đã lìa đời – để lập nên Dòng Kín Dolbeau nầy.
 Trong số hai chị Việt-Nam còn trẻ, một chị  trước 1975 là du học sinh ở Pháp. Sau năm 1975, chị được ơn gọi đi tu Dòng Kín tại Pháp. Sau đó chị chuyển qua Đan Viện Dolbeau.
 Còn chị kia, vốn sinh trưởng trong một gia đình Việt kiều ở Kampuchia. Năm 1970 chị đã theo cha hồi hương về Việt-Nam (mẹ đã qua đời). Chị đã cùng với gia đình vượt biên sang Canada vào năm 1982. Tại đây chị đã được ơn gọi đi tu một dòng nữ bác ái và đã khấn trọn đời. Trong những năm gần đây, chị lắng nghe tiếng Chúa gọi và đã chuyển hướng theo linh đạo chiêm niệm Cát-Minh.

Lễ chết
 Chị “Anna Nguyễn Thị Quý” (Marie de Jésus-Crucifié), 97 tuổi, lúc còn sống, mặc dù tuổi già sức yếu, phải ngồi xe lăn, nhưng chị luôn vui vẻ, gương mặt không ngớt nở nụ cười tươi với mọi người và tràng chuỗi Mân Côi không rời khỏi tay.
 Chị thường vui cười nói đùa với mọi người là chị đã mầng hết mọi lễ: lễ bạc, lễ vàng, lễ ngọc…chỉ còn thiếu “Lễ Chết” mà thôi. Chị nói với một giọng thanh thản bình an, như mong đợi Chúa đến đón chị về cõi vĩnh phúc.
 Và chị đã được toại nguyện: Chúa đã gọi chị gọi về giữa tháng bảy năm 2005, trong cơn nắng hạn kinh hồn giáng xuống trên quả địa cầu. (Chị sinh ngày 10-5-1909 và mất ngày 12-7-2005.)

Vườn Thánh
 Thật ra “lễ chết” của chị Anna Quý chính là “lễ phục sinh” của chị.
 Ngày thứ sáu (8-7-2005), vào buổi kinh chiều hôm đó, trong lúc cầu nguyện cho thế giới, chị đã thốt lên lớn tiếng: “Lạy Chúa, linh hồn con rất khao khát Chúa dường bao!” Đây là lời nguyện cuối cùng của chị giữa cộng đoàn. Và đây cũng là lần đầu tiên, chị cầu nguyện cho chính mình, thường chị chỉ cầu cho Giáo Hội và ơn gọi mà thôi.
 Ngày thứ ba (12-7), vào lúc 5 giờ 40 sáng, chị đã ra đi với khuôn mặt tràn đấy vui tươi và bình an.
 Chị được an táng ở nghĩa địa nhỏ bé trong Nội Vi Đan Viện, bên kia hàng rào kẽm gai khá cao. Đó là khoảnh đất ở phía trái Đan Viện, trên đó có một cây Thánh Giá cao vài thước. Và xung quanh là những nấm mồ hoang sơ để lộ ra những nấm đất khô cằn chen lẫn vài cụm cỏ nửa xanh nửa úa.
 Dưới con mắt người đời, đó thật là một “nghĩa trang đìu hiu”. Nhưng đối với các nữ tu Cát-Minh, đó là “Vườn Thánh”, trong đó những hạt lúa được gieo xuống đất, phải mục nát đi để sinh hoa kết quả: “Tôi bảo thật, Tôi bảo thật anh em, nếu hạt lúa rơi xuống đất không chết đi, nó sẽ trơ trọi một mình, nhưng nếu nó chết đi, nó sẽ mang lại nhiều hạt lúa mới!” (Gio 12, 24).  
 Hương Vĩnh
 (còn tiếp)

Tác giả Đỗ Tân Hưng