Thứ Hai, 23 tháng 1, 2012

Ơn gọi tận hiến



In
Kính thưa cha, 
Chắc cha không biết con. Con xin tự giới thiệu con là Th. sống ở S.D., Hoa Kỳ. Được biết cha qua Vietcatholic.net. Con muốn hỏi cha vài câu hỏi xin cha giúp con. 
1. Làm thế nào để biết mình có ơn gọi? 
2. Như con đã vài lần có ý đi tu, nhưng còn nhiều lo lắng cho cuộc sống. Thí dụ trong một biến cố nào đó trong cuộc sống, làm cho mình nhận ra ơn gọi của mình (ví dụ như học hành không thành đạt, thất bại trong tình trường, thích đời sống độc thân, cầu nguyện nhiều là hạnh phúc và bình an và đã có ý định đi tu từ trước. Như thế có phải là ơn kêu gọi không? 
3. Con đã 33 tuổi còn thích hợp cho ơn kêu gọi không? 
Xin cha giúp con. Cảm ơn cha. Thuận. 
********
Thăm Th., 
Greetings from Melbourne, Australia 
Sau đây là phần giải đáp, chia sẻ với Th. về ơn gọi: 
1. Làm thế nào để biết mình có ơn gọi: Một người được coi là không có ơn gọi khi trong suốt cuộc sống bình thường hàng ngày của họ, họ không bao giờ nghĩ tới việc ơn gọi. Dấu hiệu của ơn gọi là trong một hay nhiều khoảnh khắc nào đó của cuộc sống, một người bị loay hoay với việc Chúa có gọi mình hay không. Như thế, tóm lại, cứ căn cứ vào lá thư ngắn ngủi của Th. viết rằng "đã có nhiều lần có ý định đi tu" thì tôi có thể nói Th. có thể có ơn gọi đấy (ơn gọi để dâng mình tận hiến trong hàng ngũ tu sĩ hay Linh mục) 
2. Người đi tu (dâng mình tận hiến) không phải là người đã dứt khoát được mọi lo lắng của cuộc sống trần thế, mà trong nhiều trường hợp (nhất là trường hợp của những người đã đến tuổi thành niên), người ấy "phải chiến đấu" cách cam go, dành phần thắng cho việc dâng mình tận hiến: Học hành không thành đạt là dấu hiệu của việc không có ơn gọi; Thất bại trong tình trường cũng là dấu hiệu của việc không có ơn gọi. Vì khi dâng mình là dâng cho Chúa những gì quí giá mình có (trí khôn minh mẫn, học hành giỏi dang... đời sống thanh niên của họ có nhiều người ao ước muốn chiếm hữu, nhưng người ấy không muốn trao cho họ, mà muốn dâng cho Chúa, như thế mới đáng quí. Còn trong trường hợp mình đi tứ lung tung tìm người để cho cuộc đời mình mà không ai nhận, nên đành dâng cho Chúa, như thế thì Chúa nhận thế nào được. Thí dụ như khi dâng lên Chúa hai bông hoa với những lời lẽ như sau: (Bông thứ nhất) "Lạy Chúa con xin dâng lên Chúa bông hoa này, nhưng cũng xin thưa lên Chúa biết là con cho nhiều người lắm, nhưng không ai muốn lấy cả, nên con đành cho Chúa" và (Bông thứ hai) "Lạy Chúa con xin dâng lên Chúa bông hoa này, nhiều người muốn xin lắm, nhưng con không cho, mà con muốn dâng cho Chúa.". Bông hoa nào quí hơn? 
Việc thích sống đời sống độc thân có thể là dấu hiệu của ơn gọi, nhưng động lực của việc thích sống độc thân là động lực nào? Có phải là vì không thể chịu nổi với sự hiện diện của người chung quanh, hay là thù ghét những người chung quanh? Tu hay tận hiến trong Công giáo là vào đời, là dấn thân vào với đời, là sống với đời và yêu đời, và yêu người. 
Thích cầu nguyện và cầu nguyện nhiều, cũng có thể là dấu hiệu của ơn gọi, nhưng phải để ý về nguyên nhân thúc đẩy đến việc cầu nguyện: Có phải cầu nguyện để tìm nguồn an ủi vì không tìm được chia sẻ nơi người chung quanh, vì không tin vào mọi người, hay vì không có bạn bè để tâm sự? 
3. Ba mươi ba tuổi hay bao nhiêu tuổi cũng đều thích hợp cho ơn gọi. Đối với Chúa không có tuổi và không có thời gian (Ta là Alpha và Omega - nguyên thủy và cùng đích). 
Đề nghị Th. nên gặp một Cha Linh Hướng để xin Ngài chia sẻ cách thực tế hơn về ơn gọi. Vì qua e-mail tôi chỉ có thể chia sẻ với Th. được như thế thôi. Nhiều những chi tiết về đời sống cá nhân, môi trường chung quanh và hoàn cảnh xã hội cũng không phải là không quan trọng trong việc khám phá ra một ơn gọi. 
Chúc Th. luôn có được sự an bình. Cầu cho nhau. Thân mến. 
Lm. J. Bùi Ðức Tiến 
Nguồn: vietcatholic.net

Ơn Gọi Tu Trì



 Ơn gọi? – Ai lại chẳng có ơn gọi riêng?
– Không: ơn gọi muốn nói đây là ơn gọi tu trì, ơn gọi tận hiến! – Ah, là vậy!
 “ ...thiếu thợ gặt!”: thiếu thợ gặt! thiếu thợ gặt! Phải kêu lên Chúa mới đuợc! – Một phút cầu cho ơn gọi:
Anh Thư : Chúa ơi! Lúa chính đầy đồng mà thiếu thợ gặt! Xin Chúa sai gấp thợ đến gặt trong đồng lúa chín của Chúa! (x. Mt 9,37b-38; Lc 10,2).
- Chúa: Con nói... gì?
Anh Thư: ... thiếu thợ gặt trong đồng lúa chín của Chúa! Xin Chúa phái họ tới!
Chúa: Làm sao thiếu được?! Có đến mấy tỷ kitô hữu trong thế giới, giữa loài người mà! Họ sẽ gặt...
Anh Thư: Có mấy người kitô biết và lo gieo vãi, thu gặt? Chính họ cũng cần được gieo vãi, cần nhận được hạt giống, làm cho nẩy sinh... và thu gặt... Cần gửi thợ chuyên môn đến “gặt” cả họ nữa... Chính vì thế, ở đây, con muốn xin Chúa: gửi linh mục và tu sĩ nam nữ đến... ban thêm nhiều ơn gọi, kêu thêm nhiều người bước vào đời tu trì, tận hiến.
Chúa: Có bao giờ Chúa kêu thiếu, gửi ít đâu? Luôn luôn gửi đủ, gửi dư...
Anh Thư: Sao hầu như đâu đâu – nhất là bên Âu Mỹ - cũng thấy thiếu: các nhà, các cơ sở của dòng nam, dòng nữ thiếu nhân sự phải đóng của, bán đổ bán tháo; hàng trăm giáo xứ thiếu chủ chăn phải phân tán, giải thể... ?
Chúa: Chắc không đó?
Anh Thư: ...thì xin Chúa cứ phái các sứ thần xuống, đi khắp trái đất mà kiểm chứng...
Chúa: Được!
[một hồi lặng thinh...]
Chúa: Đúng! Mà tại sao lại thế? Bao giờ Chúa cũng kêu cũng gọi đủ... Nhưng thực tế là thiếu!... Ah, ...hiểu ra rồi: kêu gọi mà người ta– nhất là người trẻ – không nghe, không chịu nghe. Họ bịt tai... đi đâu cũng đeo – bưng kín hết hai lỗ tai – bộ ống nghe ca, nghe nhạc cát xét walkman, MP3, ipod, để người say mê uốn quyện theo nhịp điệu các ca khúc rộn ràng, dồn trọn cặp mắt lờ đờ vào những náo hoạt thế tục, những phơi bày lòe loẹt trần gian... Thế thì làm sao nghe được thấy đuợc tiếng Chúa mời gọi! Thiếu thì đâu có lạ, thiếu là phải! Làm sao đây, con?
Anh Thư: Làm sao đây, Chúa?
[lại một hồi lặng thinh...]
Anh Thư: Chúa ơi! Chúa còn nhớ không? Để khuyến dụ ‘tâm hồn ngoại tình’ trở về với Chúa, Chúa đã nghĩ ra kế này: “Bởi thế, này Ta sẽ quyến rũ nó, đưa nó vào sa mạc, để cùng nó – lòng kề bên lòng, khe khẽ – Ta thố lộ tâm tình.” (Hs 2,16).
Chúa: Có nhớ! Đúng rồi... nhưng thời nay, đưa vào sa mạc không phải là chuyện dễ, đâu phải chuyện bình thường! Và không phải ở đâu cũng có sa mạc.
Anh Thư: Chúa Thánh Linh chỉ cho con thấy rồi... cần phải đưa người ta, đặc biệt là các người trẻ, đi vào thinh lặng, bên ngoài và bên trong, tức là khuyến khích, là đưa họ đến tham dự các khóa tĩnh tâm, cấm phòng để họ có cơ hội lắng nghe tiếng Chúa, đọc ra ý Chúa, xem Chúa muốn họ làm gì, thấy rõ Tình yêu vô biên của Chúa... tất họ sẽ nghe và hiểu đuợc tiếng gọi của Chúa, nhận ra ơn gọi của mình, dù là ơn gọi tận hiến!!!
Chúa: Chí lý, thật chí lý! Con giỏi thật! Nhưng con phải ra sức – và nói với các bạn của con ra sức – giúp Chúa làm chuyện đó!
Anh Thư: Amen, amen! Halleluia! ╬
 Nhận ra ơn gọi tận hiến? Để sống khác đời, bất thường hoặc là để sống ở một bậc cao hơn, danh dự, vẻ vang hơn người lập gia đình?
– Bất thường? Có phần đúng, nếu chỉ nhìn với cặp mắt trần, tự nhiên (= vô gia đình với đời độc thân, bỏ tư hữu với đời khó nghèo, hiến tự do với ý nguyện vâng phục...); nhưng nếu nhìn với con mắt siêu nhiên thì sẽ thấy đó là công trình của ơn thánh Chúa có khả năng chẳng những làm cho người tận hiến vì Nước Trời sống một cuộc sống bình thường, mà còn nắn đúc nên một kiệt tác siêu việt nữa, kiệt tác biểu hiện cao độ – qua cuộc đời hy sinh tận hiến như Đức Kitô – Tình Yêu và Quyền Năng của Thiên Chúa, nói lên tình trạng siêu thăng cách chung của người lành (“như các thiên thần trên trời...”: Mt 22:30). Cụ thể mà nói ơn thánh biến đổi ấy chính là ơn gọi. Đó là điểm đặc thù của ơn gọi tận hiến, so với ơn gọi làm người, ơn gọi chung.
– Bậc sống cao trọng hơn, danh dự hơn? Nếu do những yếu tố cấu tạo, bậc sống tu trì có hoàn thiện hơn – bởi thế mà gọi là “nỗ lực theo đuổi Đức Ái trọn hảo” (x. Perfectae Caritatis, số 5) – thì không nhất thiết có nghĩa là các cá nhân sống lối sống đó đều thánh thiện trổi vượt hơn người sống bậc gia đình.
– Nhận ra? Không phải cứ có lòng muốn là được? Mà lòng muốn dựa trên những lý do xác minh nào và tự nó tồn vững được bao lâu?! Ơn gọi, ơn biến đổi nói trên đây, trước tiên đến từ Thiên Chúa. Ước muốn từ phía con người chỉ có thể là thái độ đáp trả lời mời gọi của Thiên Chúa, chứ không phải là yếu tố chủ chốt, chủ động trong tiến trình ơn gọi. ‘Chỉ có thể’ bởi vì có khi con người muốn, nhưng Chúa lại không muốn (như đọc thấy nhiều lần trong các Phúc Âm), và trái lại! Mặt khác, một khi mời gọi, tất Thiên Chúa phải làm sao để con người có thể nhận ra, nghe thấy... Đúng thế! Thiên Chúa khắc ghi ý của Người, lời Người mởi gọi lên trên cuộc đời, trên toàn bộ cuộc đời người được mời gọi. Vậy, để nhận ra ý của Chúa, nhận ra ơn gọi thì phải đọc lại cuộc đời để thấy rõ những dấu chỉ, những gì Người muốn nói liên quan đến ơn gợi và đời tận hiến...
– Cụ thể mà nói, ơn gọi hoặc ý Chúa về đời tận hiến biểu hiện qua những gì?Có thể nói vắn tắt: thôngthường,Thiên Chúa nói qua những yếu tố sau đây : 1. trạng thái bình thường trong đời sống tự nhiên (về thể lý, tâm lý, khả năng trí tuệ...), 2. khả năng sống đời độc thân thánh hiến, 3. thái độ thanh thoát đối với tiền của, 4. khả năng bỏ qua ý riêng để đón nhận ý Chúa (biểu hiện qua ý bề trên), 5. khả năngsốngchungvới người khác (cộng đoàn), 6. đời sống thiêng liêng ý thức và đẩy mạnh, và 7. động cơ chính yếu và của riêng mình, thôi thúc chọn đời tận hiến.
– Ai cũng “biết đọc” những gì Chúa viết như thế trên cuộc đời mình?
Dĩ nhiên là không! Có học, có tập thì mới biết đọc; biết đọc những gì dễ rồi tiến dần đến những gì khó, phức tạp... Mà học thì phải có người chỉ dẫn, và cần thời gian. Trong trường hợp ‘đọc ơn gọi’ thì cũng thế! Đọc ơn gọi là chuyện khó, cần phải học, cần phải được hướng dẫn, cần thời gian... Bảy yếu tố nêu trên đây có thể đuợc dùng ngay khi khởi sự nhận định. Cuối cùng, tối thiểu, đương sự nhận định cũng phải tiến đến chỗ có khả năng làm ‘bài toán’ đời mình với sự hướng dẫn của một người kinh nghiệm, chuyên môn trong lãnh vực...
Nhận định ơn gọi mang lại lợi ích nào?
Khi chưa xác tín thì người ta do dự, phân tâm, phân tán nghị lực, thiếu quyết tâm... Khi chưa xác tín về ơn gọi của mình, thì khó mà dồn hết nỗ lực vào việc tu luyện, thì khó mà sống cho hết mình trong đời tu, thì khó mà nên yếu tố tích cực xây dựng trong đời cộng đoàn, thì khó mà có nghị lực phấn đấu khi gặp khủng hoảng... Đó là chưa nói tới chuyện có thể đi sai đường! Trái lại, xác tín trong ơn gọi – và sống xác tín đó – tất có đủ vốn liếng cho toàn bộ đời tận hiến!



Lm. Minh, sj

Vài mảnh vụn suy tư về ơn gọi tận hiến của người Việt tại Nhật



Lời ngỏ: Nguyên thủy bài này được viết ra như một chia sẻ dành cho giáo xứ thánh Philipphê Minh ở Manitoba, Canada, nơi tôi đã từng phục vụ. Sau một lần nói chuyện với cha Hiến, phụ trách cộng đoàn người Việt công giáo ở Nhật, tôi đã chia sẻ bài viết này với ngài và cha Hiến đã muốn tôi hiệu đính lại cho hợp với hoàn cảnh và cho phép ngài đăng trên tờ Hiệp Thông của liên tu sĩ Việt Nam tại Nhật. Tôi đã làm theo lời của cha Hiến và xin chân thành gởi đến anh chị em tu sĩ Việt Nam tại Nhật cũng những ai quan tâm một vài mảnh vụn suy tư và thao thức của tôi về ơn gọi của chúng ta tại Nhật. Dĩ nhiên, vì mang tính chất suy tư của con người nên có đúng và sai; hoặc quá chủ quan. Dù sao, đây chỉ là những chia sẻ vụn vặt xuất phát từ những ưu tư về ơn gọi xin gởi đến quí anh chị em với ước mong và lời nguyện đi kèm là “Xin Chúa luôn đồng hành với chúng ta”!
Lm. Bernard Phạm Hữu Quang, p.s.s
Cũng khá lâu rồi, có lẽ gần một năm, vì bận công việc cũng có, vì trái đường cũng có... và thêm vào đó một vài lý do khác, tôi đã không có dịp thăm hai cô bé mà tôi gọi là hai “sơ nhí” đang tu kĩ trên miền núi xa xăm, tĩnh lặng, xa lánh “bụi trần”. Tôi suy nghĩ không biết hai “sơ nhí” đã đạt đến mức “thượng thừa” trong đời tu chưa? Bây giờ tiếng Nhật khá rồi và cũng quen dần với văn hóa Nhật và đời sống tu nên chắc là không còn khóc như lần đầu gặp gỡ?... Những câu hỏi tương tự như thế cứ theo đuổi tôi trong suốt quãng đường từ chủng viện đến dòng tu của hai cô bé.
Như những lần trước, hôm nay tôi cũng đi chung với một linh mục người Nhật, ngài thường lên dạy cho các sơ trong dòng một tháng một lần. Sau khi dùng cơm tối chung xong, linh mục người Nhật đi dạy; hai bà sơ Nhật, một là thỉnh sinh, một là giáo tập, cũng đi học. Tôi và hai “sơ nhí” có một tiếng đồng hồ để nói chuyện. Một tiếng đồng hồ xem ra quá ngắn ngủi vì tôi biết hai cô có nhiều điều muốn tâm sự. Nhưng “có còn hơn không” như người ta vẫn nói! Tôi ngồi đó, chăm chú nghe hết “sơ nhí” này đến “sơ nhí” khác thay nhau huyên thuyên nói. Ban đầu, thỉnh thoảng trong câu chuyện còn có chen lẫn tiếng cười hồn nhiên, bộc trực của tuổi thơ vì những cái “khù khờ” của các cô trong lần đầu tiên xa gia đình và quê hương Việt Nam, một quê hương tương đối “lạc hậu”, để thích nghi vào cuộc sống của một đất nước đã có tiếng là tiến bộ, văn minh vào hàng thứ hai trên thế giới. Cười vì những hiểu lầm trong cuộc sống gây ra bởi sự khác biệt ngôn ngữ, văn hóa. Cười vì có lẽ khá lâu các cô không có những tiếng cười thoải mái!... Nhưng càng dần về sau của những câu chuyện thì chỉ còn những tiếng sụt sùi chan hòa trong nước mắt. Tôi ngồi đó mà nghe lòng mình cũng buồn theo tiếng khóc của hai cô bé. Tôi cứ để cho hai cô nói và khóc tự nhiên vì có lẽ đã lâu không có ai lắng nghe nỗi buồn của các cô. Đây không phải là lần đầu hai “sơ nhí” khóc trước mặt tôi. Lần đầu tiên cách đây gần 3 năm, vào mùa đông, tôi có lên thăm khi hai cô mới qua Nhật được vài tuần. Thấy tôi, các cô cũng đã khóc như những trẻ thơ. Có lẽ, lúc đó khóc vì vui mừng khi, lần đầu tiên sau khi xa quê hương, gặp một người Việt, một linh mục, nơi chỗ “đèo heo hút gió” đó tại xứ lạ quê người. Nhưng hôm nay, gần ba năm sau, các cô cũng đã quen nhiều với ngôn ngữ và cuộc sống trong cộng đoàn hoàn toàn người Nhật mà phần lớn là các nữ tu già cả, bệnh tật, các cô lại khóc, không phải chỉ vì được gặp lại tôi, nhưng vì có những nỗi buồn trong cuộc sống của hai kẻ đang chập chững bước vào đời tu giữa nơi xa lạ và với những người không cùng máu mủ, không cùng ngôn ngữ và văn hóa.
“Đời sống tu ở Nhật không đơn giản!”, hai “sơ nhí” vừa lau nước mắt vừa tâm sự. Sau hơn hai năm ròng rã, hằng ngày phải miệt mài phấn đấu với tiếng Nhật, để rồi giờ đây, dù hiểu tiếng Nhật tương đối khá (đã có “ni kyu”), hai “sơ nhí” lại thấy càng ngày càng khó khăn hơn trong sự tương quan với các chị em người Nhật trong cộng đoàn, nhất là với sơ chịu trách nhiệm trực tiếp. Ngoài thời tiết lạnh lẽo và những món ăn không quen lắm, còn có tuổi tác quá chênh lệch; lối suy tư khác biệt vì có những bối cảnh quá khứ khác nhau; sự đòi buộc phải sống hoàn toàn như người Nhật, và vì thế, cần tránh tiếp xúc nhiều với người Việt (đây là một lý do nữa khiến tôi ít đến với hai cô và là điều làm tôi khó chịu như tôi sẽ nói đến sau này). Đó là chưa kể đến một sự “coi thường” nào đó đối với các cô vì các cô đến từ một quốc gia nghèo! (Tôi liên tưởng đến lời Đức Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt nói trước UBND thành phố Hà Nội cách đây không lâu!)... Khó khăn tiếp nối khó khăn, và cứ thế tiếp tục đè nặng trên hai cô gái rất trẻ tới Nhật khi mới xong lớp 12!
Trong suốt buổi gặp gỡ đó, tôi không nói gì nhiều, chỉ biết lắng nghe hai “sơ nhí” vừa khóc vừa tâm sự. Thời gian một tiếng đồng hồ qua mau. Tôi phải từ giã hai cô cho dù ai trong chúng tôi cũng muốn có thêm một thời gian nữa để chia sẻ và lắng nghe. Từ giã hai cô bằng một lời nguyện và sự chúc lành, đó là những gì tôi có thể làm cho các cô ngoài sự viếng thăm không thường xuyên của mình. Tôi cầu chúc hai “sơ nhí” tìm thấy được Thánh Ý Chúa và sự an bình trong cuộc sống Tận Hiến. Đó cũng là lời cầu nguyện thường xuyên cho chính bản thân tôi!
Như đã nói, đây không phải lần đầu tôi ghé thăm hai “sơ nhí” này, nhưng lần này, khi ra về tôi có một tâm trạng khác những lần trước. Suốt quãng đường dài hơn 2 tiếng đồng hồ ngồi xe hơi trở về chủng viện và cho đến nay sau hơn 2 tuần, khi tôi đang viết những dòng chữ này, tôi vẫn suy nghĩ thật nhiều về hai “sơ nhí” cũng như những chủng sinh, tu sĩ nam nữ Việt Nam khác đang sống tu tại Nhật và đang có những khó khăn tương tự. Dĩ nhiên, trong số những người này có chính tôi. Tôi đồng cảm được với họ trong những khó khăn họ đang đối diện. Đúng như hai “sơ nhí” tâm tình: ngôn ngữ và vấn đề hội nhập văn hóa của Nhật thật không dễ dàng chút nào! Và đây cũng là nhận xét của hầu hết tất cả người ngoại quốc đã hoặc đang sống tại Nhật. Vì cũng đã sống trên 20 năm tại Âu Châu và Mỹ Châu và bây giờ đang sống và làm việc tại Nhật, tôi có thể quả quyết rằng người Việt dễ học ngôn ngữ và hòa nhập vào xã hội Âu Mỹ hơn là xã hội Nhật, cho dù Nhật vẫn thuộc Á Châu. Vì chứng kiến hoặc chính mình cảm nghiệm được những khó khăn đó, trong những giây phút suy gẫm tôi đã đặt nhiều câu hỏi với Chúa: Có phải thực sự Chúa kêu gọi chúng tôi theo Chúa và làm việc tại Nhật này không? Hay chỉ là những “ảo vọng” cá nhân hay chỉ “cúi đầu thừa lệnh bề trên”, “nhắm mắt đưa chân”, nhưng được gán cho một thành ngữ cao đẹp là “tiếng Chúa mời gọi”? Vì không phải ai cũng có ơn gọi truyền giáo. Tại sao “đi theo Chúa” có nghĩa là “vác thập giá mình” để theo? Có phải Chúa muốn những môn đệ Chúa phải gian nan, đau khổ Chúa mới hài lòng? Có cần lắm không những thử thách trong cuộc sống để chứng minh lòng thành kính? Gian nan, thử thách có lợi ích gì cho những kẻ muốn theo Chúa? Những người không sống đời dâng hiến cũng gian nan, đau khổ, và nhiều khi còn khổ hơn nhiều; thế thì những hy sinh của người tu trì có giá trị gì không? Những thử thách và đau khổ mà hai “sơ nhí” và những người trẻ như họ đang âm thầm chịu đựng trên khắp mọi miền vì Tin Mừng, vì ơn gọi có quá nặng nề không? Họ cũng có những lựa chọn khác mà, tại sao lại chọn Chúa? Có phải Chúa đã “dụ dỗ” họ, nói theo ngôn từ của ngôn sứ Giêrêmia (Gr 20,7)? Phải làm gì để những thử thách, gian nan không đè bẹp những con người vốn mang bản tính mỏng dòn? Phải làm gì để tránh những khó khăn hay đau khổ không cần thiết do con người gây ra cho nhau? Làm sao để giúp những người trẻ này tìm thấy hạnh phúc, niềm vui trong đời dâng hiến?... Tôi đặt nhiều câu hỏi nữa với Chúa nhưng xem như “Chúa vẫn lặng thinh” như Ngài vẫn thinh lặng trong máng cỏ tại Bethlehem và trên thánh giá tại đồi Calvario!
Những gì tôi viết trên không có mục đích đề cao hai “sơ nhí” mà tôi biết. Thực ra hai “sơ nhí” này cũng không biết tôi đang mượn tình cảnh của các cô để chia sẻ những suy tư của mình về ơn gọi tại Nhật. Điều tôi hy vọng là qua việc ghi lại cuộc tiếp xúc vừa rồi với hai cô bé đang dự tu tại một nhà dòng tại Nhật, mọi người hiểu và thông cảm phần nào những khó khăn và thách đố cho những ai đang bước theo Đức Kitô qua đời sống tận hiến, đặc biệt hơn qua đời sống tận hiến truyền giáo tại Nhật. Dĩ nhiên, đây không phải là trường hợp duy nhất mà tôi biết; trái lại có nhiều trường hợp tương tự vì tôi đã và đang có dịp làm việc, tiếp xúc và đồng hành thiêng liêng với một số các chủng sinh, nữ tu đang sống tại Nhật. Dù mỗi ơn gọi đều có tính cách cá biệt vì mỗi người có một hoàn cảnh, một màu sắc khác biệt với những người khác; nhưng khi có cái nhìn tổng thể về ơn gọi trong một môi trường chung nào đó thì có những nét tương đồng đáng chúng ta quan tâm. Mới đây, trong khi giúp tĩnh tâm cho một số tu sĩ trẻ Việt Nam cũng đang tu tại Nhật và đang chuẩn bị khấn tạm, tôi đọc bài suy tư này như một chia sẻ và các nữ tu này đã khóc nhiều vì đồng cảm với hai “sơ nhí” kia. Khi tôi hỏi lý do tại sao khóc, các sơ trả lời là các sơ cũng đã và đang trải nghiệm những tình cảnh tương tự!
Có nhiều điều làm tôi trăn trở và quan tâm đến những ơn gọi Việt Nam đến Nhật trong khoảng mười năm trở lại, ví dụ: vấn đề “động lực” (motivation) thúc đẩy đi tu tại Nhật; vấn đề tuyển ơn gọi ở Việt Nam: cách thức cũng như tiêu chí; vấn đề chuẩn bị ở Việt Nam; vấn đề huấn luyện trong các chủng viện, dòng tu tại Nhật cho các tu sinh này… Trong một bài viết cho “Bulletin of Saint Sulpice” xuất bản hằng năm, tôi đã nhấn mạnh đến nhiều “phương cách” của Thiên Chúa dùng khi Ngài gọi người nào đó. Ngài có thể dùng những phương cách rất tầm thường, đơn sơ, ví dụ: một chiếc áo dòng dễ thương, sự thanh thản của đời tu… hay ngay cả cái nghèo khổ của cá nhân và gia đình, cơ hội cho sự thăng tiến về học vấn, kiến thức, hay ước muốn rất tốt lành, trong sáng…để kêu gọi một người nào đó. Nói cách khác, Thiên Chúa có hoàn toàn tự do kêu gọi bất cứ ai và dưới bất cứ hình thức nào, vì đó là sáng kiến của riêng Ngài. Đọc lại các chương đầu của 4 Tin Mừng chúng ta chẳng thấy rằng Đức Giêsu đã gọi các môn đệ của Ngài theo nhiều cách thế khác nhau sao? Rồi suốt bao năm đồng hành với Chúa trên mọi nẻo đường Palestine, cùng ăn uống, từng chứng kiến các phép lạ Chúa thực hiện, tai nghe biết bao nhiêu huấn dụ của Chúa… mà các môn đệ vẫn mang ý niệm sai lạc khi theo Ngài. Các môn đệ tưởng theo Thầy để được “ngồi bên tả hay bên hữu trong vương quốc”của Ngài (Mt 20,21); để được vang danh cá nhân hay gia đình; được “lợi lộc”… Nhưng Chúa vẫn gọi và chọn các vị! Chẳng phải Đức Giêsu đã biến đổi Phaolô, kẻ bắt bớ dân Ngài, thành môn đệ rường cột của Giáo Hội Ngài đó sao? Suốt chiều dài lịch sử của Giáo Hội, có biết bao người theo Chúa chỉ vì một lý do rất đơn sơ, nếu không muốn nói là tầm thường lúc ban đầu! Dĩ nhiên, động lực dẫn đến quyết định đi tu vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc đi theo Chúa. Nhưng nhiều khi các động lực đó không xuất hiện cách rõ ràng hoặc bị che giấu cách cố tình trong bước đầu theo Chúa. Do đó cần nhiều thời gian để khám phá và, nếu cần, phải thay đổi hoặc biến đổi động lực. Nói khác đi, điều quan trọng nhất là ơn gọi cần phải được thanh luyện, thăng hoa; cần được hỗ trợ và biến đổi bởi Chúa Thánh Thần, Đấng đã tái sinh các tông đồ trong ngày lễ Hiện Xuống (x. Cv 2,1-13). Và như thế, đời sống tâm linh là một trong những điều kiện và phương tiện quan trọng nhất để qua đó, với thời gian, qua tác động của Chúa Thánh Linh và sự giúp đỡ của các vị có trách nhiệm hướng dẫn, ơn gọi được thanh luyện và thăng hoa.
Phải, đời sống tâm linh là điều làm tôi trăn trở và quan tâm trước tiên tại Nhật đối với một số đông các ứng sinh, tập tu trong những cộng đoàn dòng tu, nhất là các cộng đoàn nữ tuyển nhận các cô trẻ từ Việt Nam. Rời bỏ Việt Nam rất trẻ (có em phải chờ đợi ở Việt Nam để khi vừa tròn 18 tuổi là được đưa đi) nên đời sống tâm linh, sự hiểu biết về tôn giáo của các em chỉ dựa trên một ít kinh nguyện đạo đức bình dân được truyền đạt từ gia đình, trên những bài giáo lý sơ khởi trong các lớp giáo lý tại các giáo xứ hay trên một vài cảm xúc tôn giáo nhất thời. Những năm đầu mới qua, thường là 2 năm, các em phải dồn hết sức lực để đầu tư cho vốn liếng tiếng Nhật để có thể nói là tạm đủ cho việc giao tiếp và hành xử trong những công việc hằng ngày hoặc tham dự các giờ kinh nguyện hoặc để giữ luật lệ của chủng viện hay nhà dòng… Nhưng để có khả năng nghe giảng dạy, đọc và hiểu sách tiếng Nhật một cách sâu xa hơn để nuôi sống phần tâm linh thì lại là vấn đề khác. Ngay cả bằng tiếng Việt các em chưa đủ nền tảng để hiểu các sách tu đức, thần học, làm sao có khả năng để thu nhận bằng tiếng Nhật! (Chính bản thân tôi cũng cảm thấy ngày càng nghèo đi nếu không nói là cằn cỗi về đời sống tâm linh vì khả năng hấp thụ chất liệu làm giàu cho đời sống tâm linh bị ngăn chặn bởi hàng rào ngôn ngữ). Sau hai năm học tiếng Nhật là thời gian cho hai năm tập. Trong hai năm tập các em thu thập được bao nhiêu? Rồi sau hai năm tập, vừa khấn tạm xong là bắt tay vào công việc. Nếu có khả năng và nếu có nhu cầu thì thường được gởi đi học chuyên môn về nhà trẻ, bệnh viện, nhà dưỡng lão… chủ yếu là chuẩn bị cho công việc. Chúng ta biết người Nhật nổi tiếng là “workoholic” mà! Các em thường không có thời gian cần thiết để học hỏi và đào sâu hơn về Lời Chúa, thần học, tu đức để làm giàu đời sống tâm linh. Đây là tình trạng chung của một số đông những tu sĩ trẻ Việt Nam tại Nhật mà tôi có cơ hội gặp gỡ và chia sẻ. Và trong tình trạng đó, sau những năm nhà tập, rồi khấn tạm… không biết các em lớn lên được bao nhiêu trong đời sống tâm linh hay chỉ biết tuân theo một số luật lệ nhà dòng hay chủng viện, nhẫn nhục chịu đựng, “nín thở qua sông” để chờ thời cơ “bùng nổ”? Tôi vẫn lo lắng, đồng thời hy vọng là sự lo lắng của mình sai, đó là sẽ có một sự “khủng hoảng tâm linh” trong tương lai, kéo theo những khủng hoảng khác như: tâm sinh bệnh lý, đời sống cộng đoàn… và cuối cùng là khủng hoảng ơn gọi cho các em khi mà đời sống tâm linh không được chuẩn bị kỹ lưỡng hay được nuôi dưỡng thường xuyên. Dĩ nhiên là tôi cũng tin vào sự làm việc của Chúa Thánh Linh lắm chứ, nhưng Ngài không loại bỏ những phương tiện tự nhiên để thánh hóa con người!
Tiếp đến, điều làm tôi ngạc nhiên đến chưng hửng đó là sự đóng khung văn hóa trong các môi trường huấn luyện các ơn gọi tại Nhật. Trong khi môi trường xã hội Nhật đón nhận nền văn minh và văn hóa Âu Mỹ rất sớm, môi trường huấn luyện ơn gọi xem ra thờ ơ với những văn hóa Á Đông. Nếu tôi không lầm thì tôi chưa từng chứng kiến hoặc nghe những người có trách nhiệm huấn luyện các chủng sinh và tu sinh ở Nhật khuyến khích các tu sinh nên giữ gìn hoặc quảng bá những nét đặc sắc của dân tộc gốc của mình. Phải chăng đó là sự thiếu cởi mở, thiếu nhạy cảm và thiếu hiểu biết của những người có trách nhiệm trong việc đào tạo? hay vì tính “tự cao dân tộc” nên đối với họ những văn hóa Á Đông khác không có gì đáng học hỏi, khuyến khích? Trên kia tôi có nói qua là hai “sơ nhí” và nhiều tu sĩ Việt Nam khác cảm thấy bị “coi thường” hoặc bị đối xử cách bất công! Có lẽ câu hỏi cần được đặt ra ở đây: các em cần được huấn luyện để theo Đức Giêsu Kitô hay để trở thành những linh mục, tu sĩ mang nặng “tinh thần dân tộc” của một quốc gia nào đó? Tôi vẫn luôn luôn cho sự học, hiểu, và biết ngôn ngữ cũng như sự hội nhập văn hóa của đất nước sở tại là những điều kiện thiết yếu cho công việc mục vụ và truyền giáo. Vấn đề là làm thế nào để việc học ngôn ngữ và thích nghi văn hóa tạo niềm phấn khởi tinh thần, yêu thích và rồi mang hiệu quả trong công việc mục vụ và truyền giáo. Vì cả hai, ngôn ngữ cũng như hội nhập văn hóa, cũng chỉ là phương tiện, dĩ nhiên là rất cần thiết, chứ không phải mục đích của những ơn gọi tận hiến khi đến Nhật. Những tu sĩ, linh mục đến Nhật, trước hết, không phải vì lý do kinh tế hay ngay cả lý do văn hóa, nhưng vì ơn gọi truyền giáo. Họ đến và mang theo họ cả một gia sản tôn giáo, văn hóa, giáo dục… cũng cần được tôn trọng. Nếu các địa phận hoặc nhà dòng ở Nhật nhận ơn gọi từ Việt Nam vì thấy ở văn hóa Việt Nam và đời sống đức tin của Giáo Hội ở đó có những ưu điểm thì tại sao lại không khuyến khích các tu sinh Việt Nam giữ lấy những nét tích cực đó; mà trái lại, muốn họ quên đi những nét đẹp đó khi họ bước vào cộng đoàn tu ở Nhật? Nếu lấy sự hội nhập vào văn hóa của đất nước sở tại như là lý do để buộc người khác “cắt bỏ cội nguồn” hay “gột rửa quá khứ” của mình thì đó là một sự thiếu tôn trọng tối thiểu của người bình thường chứ chưa nói đến thiếu bác ái Kitô giáo. Đức Kitô nhập thể và nhập thế nhưng không chối bỏ thiên tính của Ngài. Giáo Hội hoàn vũ luôn kêu gọi sự “hiệp nhất” (unity) nhưng đồng thời phê phán sự đồng dạng (uniformity) có tính cách ép buộc. Chúng ta đang sống trong thế giới càng ngày càng trở thành đa văn hóa; vì thế, mọi người cần nhạy cảm và cởi mở hơn. Có rất nhiều nhà truyền giáo nổi tiếng và thành công lớn trong việc hội nhập văn hóa địa phương nhưng không ai bắt buộc các ngài phải hủy diệt văn hóa gốc của các ngài! Có lẽ từ ngữ thích hợp cho vấn đề truyền giáo trong bối cảnh của thế giới đa văn hóa hôm nay là “inter-culturation” hơn là chỉ “inculturation”.
Một điểm nữa, tôi nghĩ là mọi người đều ước mong rằng các tu sinh Việt Nam ở hải ngoại, cho dù ở Nhật hay ở một nơi nào khác trên thế giới, có sự quan tâm hơn của các vị có trách nhiệm trong Giáo Hội, nơi gởi tu sinh đi cũng như nơi đón nhận tu sinh đến. Sự quan tâm đó cần được thực hiện bắt đầu từ khi tuyển ơn gọi, trong thời gian huấn luyện và kể cả sau khi khấn trọn hoặc thụ phong linh mục. Điều này còn có những thiếu sót nơi những người đón nhận tu sinh, có lẽ vì không đủ nhân sự hay chưa có kinh nghiệm vì còn quá mới mẻ? Đón nhận các tu sinh đến từ những nước khác không chỉ với mục đích là để điền vào “chỗ trống”; vì bây giờ mình không có ơn gọi để chăm lo nhà trẻ, nhà dưỡng lão, nhà thương hay tu viện… Ơn gọi tận hiến không phải chỉ ngừng ở “công việc” dù nó có “cao quí” đến đâu đi nữa. Những công việc đó những người không sống đời tu cũng có thể hoàn thành! Quan tâm dành cho họ không phải chỉ dừng lại ở việc cung cấp cho họ nhu cầu vật chất, phương tiện học ngôn ngữ trong một thời gian… nhưng cần lo cho đời sống tâm linh của họ được bồi dưỡng theo nhu cầu.
Sự quan tâm dành cho các tu sinh đang sống tại các nơi truyền giáo lại càng thiếu nơi Giáo Hội Việt Nam, nơi cung cấp các tu sinh. Theo tôi biết chưa có nơi nào ở Việt Nam có chương trình cụ thể chuẩn bị cho các nhà truyền giáo tương lai của Việt Nam cả! Đến ngày hôm nay sự ra đi của các tu sinh hoặc các linh mục, tu sĩ đến làm việc tại các nước khác như là chuyện “may rủi” của cá nhân khi gặp được người này hay người kia giới thiệu. Hay nếu có sự chọn lựa hay có “bài sai” cách nào đó thì khi đã ra khỏi nước rồi thì xem ra các vị không còn trách nhiệm và rồi “sống chết phó mặc Trời”! Nếu không lưu ý và có mục đích cũng như đường hướng rõ rệt trong việc gởi nhân tuyển truyền giáo ra nước ngoài, Giáo Hội Việt Nam có thể rơi vào tình trạng như nhiều người đã có sự so sánh đáng buồn là “xuất cảng lao động tôn giáo”, một hình thức “xuất cảng lao động” kiểu Nhà nước cộng sản Việt Nam!
Điều tôi cầu chúc và hy vọng nơi các tu sinh, với sức mạnh của Thiên Chúa và nỗ lực của cá nhân, biết phấn đấu trong sự học tập ngôn ngữ và hòa đồng văn hóa địa phương, nhưng không quên tầm quan trọng của đời sống tâm linh. Nếu có những người đến Nhật hay một đất nước nào đó dưới danh nghĩa ơn gọi tận hiến và truyền giáo nhưng động lực (motivation) chính là vì lý do kinh tế hay bổ túc văn hóa hay một lý do nào khác thì tôi không có gì để nói. Nhưng nếu chúng ta đến với lý do ơn gọi tận hiến và truyền giáo, phục vụ thì chúng ta cần biết đặt để sự ưu việt (priority) ở đâu. Chúng ta không phải là những người “làm công” hay sẽ trở thành những “kẻ chăn thuê”. Chúng ta là những “kẻ phục vụ” và, cho dù là “tôi tớ” (servants) trong nghĩa Kinh Thánh, thì chúng ta vẫn không phải là những “kẻ nô lệ” (slaves). Chúng ta đừng tự biến mình thành nô lệ và cũng đừng để ai biến chúng ta thành nô lệ của bất cứ ai hay bất cứ thế lực vật chất nào ngoài Tin Mừng của Đức Kitô. Trong mọi việc chúng ta phải biết tự trọng trước để người khác kính trọng mình; nhưng chúng ta không nên mặc cảm vì nguồn gốc, xuất xứ của mình để trở nên kẻ luôn sợ sệt như kẻ nô lệ. Hãy tận dụng thời gian, hoàn cảnh, ngay khi không thuận lợi, để làm giàu đời sống tâm linh của mình vì đó là mục đích tối hậu của đời tận hiến. Hãy phấn đấu với chính bản thân và ngay với những người có trách nhiệm để chúng ta có thời gian cho đời sống tâm linh của mình; và đó cũng là quyền của mình. Hãy có những giây phút để gặp gỡ Thiên Chúa vì chỉ khi mình đối diện với Thiên Chúa qua Lời của Ngài, lắng nghe Ngài nói qua nguyện gẫm, suy tư chúng ta mới có thể quyết định ơn gọi đi theo Chúa hay không. Hãy biết rằng không ai quyết định ơn gọi cho mình cả. Nếu có ai, cho dù cha bề trên, giáo tập, cha linh hướng, cha mẹ, ban bè, họ hàng… thì cũng chỉ đóng vai giúp trả mình về lại việc lắng nghe Lời Chúa để có thể trả lời Ngài, như Êli đã giúp Samuen để cuối cùng Samuen đã nhận ra tiếng Chúa và thưa: “Lạy Chúa, xin hãy phán vì tôi tớ Chúa đang lắng tai nghe” (1Sm 3,1-14).
Sau cùng, bài này được viết lên như một chia sẻ cho thấy một số trong những khó khăn trong đời tu của một bộ phận không nhỏ trong những người muốn trở thành những nhà truyền giáo, đặc biệt ở Nhật. Đây cũng là lời ngỏ gởi đến các những người tôi thân quen, bạn bè người Việt Nam đang ở hải ngoại: xin tất cả hãy nâng đỡ các chủng sinh, nữ tu, đặc biệt những người ở Việt Nam mới qua, bằng lời cầu nguyện hay bằng những cách thế khác nhau trong khả năng mình cho phép. Dĩ nhiên chúng ta cần biết sự khác biệt giữa những người đi du lịch với người đi du học, và kẻ dấn thân vào công việc truyền giáo. Những gì tôi chia sẻ trong bài này liên quan đến công việc truyền giáo và sự nâng đỡ dành cho họ trước tiên. Khi mở con tim và đôi tay mình ra với những người làm công việc truyền giáo là lúc chúng ta trực tiếp tham dự vào công việc loan báo Tin Mừng của Đức Kitô và của Giáo Hội. Chúng ta phải ý thức như thánh Phaolô: “Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng” (1Cr 9,16). Bản thân tôi (người viết) đã đi qua con đường gian khó đó như nhiều vị linh mục đang phục vụ tại hải ngoại. Chúng tôi có thể đã bỏ cuộc nếu không có những câu kinh nguyện, những lời khích lệ, những sự giúp đỡ cách này hay cách khác của nhiều người… Tất cả đã giúp chúng tôi có thêm sức mạnh để tiến tới trên con đường tận hiến. Dĩ nhiên là những linh mục đi trước, chúng tôi cần biết mình có trách nhiệm phải nâng đỡ những người đi sau để tiếp tục sứ mạng rao giảng Tin Mừng của Đức Kitô. Chúa không trả lời trực tiếp những câu hỏi tôi đặt ra cho Ngài ở trên hay những câu hỏi tương tự mà mỗi chúng ta có thể đặt ra với Ngài; nhưng Ngài nhắn nhủ chúng ta hãy theo gương môn đệ Gioan khi đứng dưới cây Thánh Giá: đó là chăm sóc Đức Maria, Mẹ của Ngài (x. Ga19,25-27). Ngài cũng đã nói với các môn đệ của Ngài khi Ngài sai họ đi rao giảng Tin Mừng: “Ai tiếp đón các con là tiếp đón Thầy, và ai đón tiếp Thầy là đón tiếp Đấng đã sai Thầy” (Mt 10,40).
Fukuoka 25 tháng 1 năm 2011
Lễ thánh Phaolô trở lại
Lm. Bernard Phạm Hữu Quang, p.s.s

Cuộc sống tu trì là kinh nghiệm tình yêu



In
Đời tu đặt nền tảng trên kinh nghiệm của những người cảm thấy mình được THIÊN CHÚA Toàn Năng Hằng Hữu thu hút. Đời tu là lời đáp trả Tiếng Gọi Tình Yêu của Đức Chúa GIÊSU KITÔ, Đấng kêu mời con người lắng nghe và tận hiến toàn thân cho Ngài với trọn lòng trung tín. Chúng ta trở thành tu sĩ bởi vì THIÊN CHÚA làm chủ vận mệnh cuộc đời chúng ta một cách huyền nhiệm đến độ chúng ta không thể nào làm khác hơn là mau mắn đáp lại bằng chính cuộc sống của chúng ta. Tiếng Chúa gọi vào cuộc sống tu trì có sức mạnh chuyển hướng một cách tuyệt đối cuộc hành trình nơi dương thế của chúng ta. Cuộc sống tu dòng không gì khác hơn là cố gắng mỗi ngày thuộc trọn về Đức Chúa GIÊSU KITÔ.
Việc đáp lại Tiếng Chúa kêu gọi đòi hỏi cuộc tìm kiếm không ngừng và được thực hiện nơi cộng đoàn, nghĩa là cùng với các Anh Chị Em tu sĩ khác trong Hội Dòng. Đây là một cố gắng để tỏ hiện cách rõ ràng ra bên ngoài - bằng chính hồng ân cuộc sống tu trì - về nét đẹp lôi cuốn của THIÊN CHÚA đối với toàn thể nhân loại. Vì lý do này mà chúng ta phải luôn luôn không ngừng tìm kiếm và chất vấn chính mình. Đúng thế! Không có chỗ đứng cho việc tự mãn tự nguyện và ham thích tiện nghi, trưởng giả trong cuộc sống của một tu sĩ chân chính.
Điểm ghi nhận đáng chú ý là trong xã hội hiện nay có rất nhiều người tìm kiếm những gì là thần linh là thánh thiêng và ý nghĩa chung cục của cuộc sống. Cuộc đời này có giá trị gì??? Vì thế, việc mục vụ tông đồ và chứng tá đời sống tu trì - cá nhân hoặc cộng đoàn - cũng như các Tu Viện phải trở thành nơi chốn thuận tiện và lý tưởng cho con người ngày nay "săn tìm" THIÊN CHÚA. Và chúng ta không nên quên rằng, khi một tu sĩ kết hợp mật thiết với Đức Chúa GIÊSU KITÔ thì tu sĩ ấy cũng dễ dàng sống tình huynh đệ trong Cộng Đoàn và thực thi tình bác ái đối với mọi người sống chung quanh.
Mỗi hành trình - mỗi cuộc hành hương - của mỗi người trên trần gian đều bắt đầu với Tiếng Gọi. Tiếng Gọi không gì khác hơn là Ơn Gọi tìm kiếm mục đích chung cục của mỗi hành động con người: THIÊN CHÚA kêu gọi chúng ta vào hưởng phúc lành sung mãn của Ngài. Đây cũng là nền tảng cuộc sống tu trì. Vì thế, các tu sĩ không được phép coi đời tu như là chuyện đương nhiên cũng không được phép nghĩ rằng ơn gọi tu dòng là chuyện tình cờ!
Trên đây là chứng từ của Đức Tổng Giám Mục Joseph William Tobin, dòng Chúa Cứu Thế người Mỹ, Tổng Thư Ký Bộ Các Dòng Tu.
Tiếp lời Đức Tổng Giám Mục Tobin là nữ tu Enrica Rosanna, dòng Con Đức Bà Phù Hộ, phó Tổng Thư Ký Bộ Các Dòng Tu.
Chúng tôi - những người tận hiến - có một cuộc sống bình thường. Ngoài thời giờ dành riêng cho đời sống thiêng liêng, chúng tôi cũng có vui có buồn có sức khoẻ có đau yếu bệnh tật. Chúng tôi cũng thực thi một nghề nghiệp, nhưng đặc biệt chúng tôi cố gắng phục vụ anh chị em đồng loại trong công tác giáo dục, bác ái, chăm sóc sức khoẻ thể xác và tâm hồn. Chúng tôi tìm cách sống cuộc đời bình thường với trọn vẹn ý nghĩa đích thực của nó.
Nhưng làm thế nào để có thể hiểu được rằng THIÊN CHÚA kêu mời chúng ta sống tình bạn mật thiết thâm sâu với Ngài? Thưa là chính lúc chúng ta hiểu được lý do tại sao chúng ta có mặt trên cõi đời này. Mỗi một cuộc đời đòi hỏi phải có một mục đích, một chung cục, một điểm tới và một ơn gọi để thực hiện. Ơn gọi và cuộc sống là hai mặt phải-trái của cùng một chiếc mề-đay là chính con người. Nếu con người không biết khám phá ra và tiếp nhận chính ơn gọi của mình thì không thể thi hành ơn gọi đó và đạt đến mức độ sung mãn cũng như hạnh phúc đích thật.
Xin đặc biệt gởi đến các bạn trẻ đang tìm kiếm ơn gọi lời kêu mời hãy nhìn vào tận nội tâm và làm một cuộc hành trình dài bên trong con tim. Rồi các bạn ngừng lại và tìm đọc điều mà THIÊN CHÚA viết riêng cho bạn xuyên qua các ước mơ, các mong đợi và các khát vọng thâm sâu nhất. Các bạn trẻ cũng nên nhìn các mẫu gương thánh thiện của những chứng nhân anh dũng đã sống một cuộc đời yêu mến THIÊN CHÚA cách trọn vẹn.
... Vào lúc ấy, Đức Chúa GIÊSU cất tiếng nói: "Lạy CHA là Chúa Tể trời đất, Con xin ngợi khen CHA, vì CHA đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng, lạy CHA, vì đó là điều đẹp ý CHA .. CHA Thầy đã giao phó mọi sự cho Thầy. Và không ai biết rõ Người Con, trừ CHÚA CHA; cũng như không ai biết rõ CHÚA CHA, trừ Người Con và kẻ mà Người Con muốn mặc khải cho .. Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng Thầy, Thầy sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Anh em hãy mang lấy ách của Thầy, và hãy học với Thầy, vì Thầy có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách Thầy êm ái, và gánh Thầy nhẹ nhàng" (Matthêu 11,25-30).
("L'OSSERVATORE ROMANO", Giornale Quotidiano Politico Religioso, Anno CLI, n.23, Sabato 29 Gennaio 2011, trang 8)
Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt
Radiovaticana.org

Ơn gọi Thừa Sai




1.Thừa sai là một ơn gọi
Khi gọi ai thì người ta kêu hay làm dấu hiệu. Ai được kêu thì quay lại nhìn xem hay lắng tai nghe. Ai được người khác gọi hay vẫy tay thì nhìn xem, rồi tuỳ tiện hướng về phía người đó.
Người đi tu là người được Chúa gọi. Người được gọi thì nhiều, nhưng người được chọn lại ít (Mt 20,16). Kết quả của ơn gọi là tuỳ như người ta có nghe tiếng Chúa gọi và có quảng đại đáp lại tiếng đó hay không. Không phải tự nhiên mà các nhà truyền giáo đã chọn vào các tu hội thửa sai. Phải có cái gì đó nơi người được gọi. Mỗi người được gọi một cách để làm công việc Chúa muốn cho mình làm. Được gọi cách nào và để làm gì thì người được gọi phài tìm cách đáp ứng cho nhằm. Có như vậy mới được việc cho mình và cho Chúa. Nếu tôi cảm thấy mình được ơn gọi làm thửa sai thì tôi phải săn sóc và vun trồng ơn gọi này. Tôi không thể là thừa sai, khi tôi còn lưỡng lự giữa việc dấn thân đi truyền giáo dưới nhiều hình thức, với sự hướng chiều về một đời sống yên hàn ở một nơi không có bấp bênh và xáo trộn. Nếu tôi thấy thiên về một đời sống như thế thì ấy là dấu tôi không thích hợp cho ơn gọi thừa sai. Bởi thế, ngay từ đầu tôi cần xác định thái độ của tôi trong ơn gọi thừa sai. Tôi đứng ở chỗ nào trên các chặng đường ơn gọi. Ơn gọi tu trì nào củng đòi người được gọi phải dấn thân và từ bỏ, nếu người ấy muốn đi đúng đường và trở nên một người có giá trị. Đôi khi xảy ra chuyện người ở trong hội dòng này lại muốn làm công việc của người ở trong hội dòng kia. Ngưởi ở đâu thì hãy làm đúng công việc ở đó. Là thửa sai thì hãy làm công việc của thửa sai, còn những việc khác để cho người khác làm. Người của hội dòng khác không làm được công việc của thừa sai và ngược lại. Vậy công việc của thửa sai là thế nào ?

2. Công việc hiện nay của Hội Thừa Sai Việt Nam

Hội Thừa Sai Việt Nam đã có từ trước 1975, thời Đức Tổng Nguyễn Kim Điền. Hội đã hoạt động và có được một số thành viên nòng cốt. Nhưng vì các biến động của thời cuộc, Hội không còn được sinh hoạt bình thường, các thành viên phân tán. Hội kể như “chìm xuống” cho đến những năm gần đây mới được khôi phục lại. Hội được mang danh là Thừa Sai Việt Nam trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam và được giao cho ĐC Phê-rô Trần Đình Tứ, Giám mục Phú Cường đảm trách. Hội bắt đầu chiêu sinh, lập trụ sở Trung Ương và bổ nhiệm người huấn luyện, xây học viện ở Gò Mây và được ĐHY Phạm Minh Mẫn giao cho quản nhiệm giáo xứ này. Mỗi lúc Hội được thành hình rõ nét và mang diện mạo của một tu hội thực thụ. Nhưng phải nói là tu hội còn đang ở trong giai đoạn đầu với những khó khăn và hạn chế. Tình trạng này có thể động viên những người đóng vai khai phá và tạo ra cho họ một niềm phần khởi hăng say nhưng cũng có thể làm cho một số thành viên e ngại về những khó khăn thuở ban đầu và cũng có thể vì thế mà tỏ ra ngao ngán không muốn tiếp tục hay muốn chuyển hướng sang một tu hội hoặc chủng viện đã có nề nếp vững chãi và bảo đảm hơn. Những điều này thật dễ hiểu và thường xảy ra. Nhưng có như thế thì ơn gọi thừa sai mới thực là một cái gì độc đáo, dành riêng cho những con người quả cảm, không ngại bước vào con đường chông gai để phục vụ Chúa và Gíáo Hội trên mảnh đất quê hương này.

3. Con đường đang đi tới

Những người di cư vào miền Nam năm 1954 và những người vượt biên sang các nước Âu Mỹ thập niên 70,80 đáng cho chúng ta suy nghĩ. Họ liều mạng bỏ lại tất cả để ra đi. Họ đã trải qua biết bao nhiêu gian nguy vất vả. Nhiều người đã bỏ mạng trong cuộc hải hành. Nhiều người còn lại đã phải cơ cực trăm chiều. Nhưng cuối cùng những con người này đã tạo lập được cơ nghiệp.

Con đường Hội Thừa Sai đang đi tới cũng giông giống như vậy. Các thảnh viên hiện nay cũng như các vị hữu trách đang góp công góp sức để định hình cho tu hội. Như thế đủ hiểu vị trí và trách nhiệm của thế hệ đương thời với công lao và những hy sinh vất vả. Nhưng có công trình đáng kể nào mà lại ở ngoài sự hy sinh.

4. Con đường riêng của Hội Thừa Sai

Thừa Sai là thừa lệnh để được sai đi. Địa điểm được sai đến là các vùng truyên giáo trong nước cũng như ngoài nước. Bất cứ ở đâu cần người rao giảng, làm chứng cho Chúa là người thừa sai được gửi tới. Phạm vi truyền giáo có hai: một là truyền giáo bên trong, hai là truyền giáo bên ngoài. Truyền giáo bên trong là truyền giáo trong gia đình, tại quê hương xứ sở, nơi mình sinh sống. Truyền giáo bên ngoài là đi xa, tới những nơi không phải là đất nước mình, giữa những người xa lạ về đủ thứ: ngôn ngữ, chủng tộc, tôn giáo, có khi tại những nơi và những người thủ nghịch với đạo của mình nữa, như hiện nay tại những nước Hồi giáo Ấn độ, Pakistan, Indonesia v.v… Sứ mệnh truyền giáo này đòi hỏi nơi nhà thừa sai một tinh thần từ bỏ và một sự sẵn sàng chấp nhận những hy sinh cần thiết về nhà ở, cơm ăn, áo mặc và một số tiện nghi tối thiểu. Chính những sự hy sinh từ bỏ này tạo nên những mẫu người đáng kính phục. Vì thế, nếu muốn là thừa sai đích thật thì phải mang trong mình xu hướng và tâm trạng này. Ngày xưa khi có người muốn theo Chúa, Chúa đã bảo người ấy là Người không có nơi tựa đầu (Lc 9,58) và ai đã cầm cầy mà còn ngoái lại đàng sau thì không thích hợp với Nước Thiên Chúa (Lc 9, 62). Tất cả đều là hy sinh và đòi hỏi.

Não trạng của người thời nay khó quen vả chấp nhận những đòi hỏi như thế. Tính tự nhiên là như vậy. Nhưng nếu được ơn Chúa giúp, con người sẽ ra khác. Cùng với sự tập tành và tu luyện theo một nền thần học và linh đạo truyền giáo, qua sách vở và kinh nghiệm cũng như đời sống của các bậc tiền bối trong ngành truyền giáo, những ai theo ơn gọi thừa sai sẽ được Chúa hướng dẫn bườc đường mình đi; Người sẽ ban cho tinh thần truyền giáo như đã ban cho các bậc cha anh, để hoạt động trong cánh đống truyền giáo mênh mông và đa dạng.

Người ta không thể thành thợ trong một ngày cũng như không thể thành nhà truyền giáo trong một thời gian ngắn. Đây là một công trình dài hạn, một ơn gọi cam go mà chỉ những người kiên trì và thiện chí mới theo đuổi được. Ngoài ra, đây cũng còn là công trình tập thể. Phải có nhiều người chung vai sát cánh bắt tay vào việc, nâng đỡ và khuyến khích lẫn nhau, mới khỏi nản và giữ được ngọn lửa hăng say như lúc ban đầu.

Bởi vậy, việc huấn luyện là cần, huấn luyện chung cũng như huấn luyện riêng. Ai đang trong thời kỳ đào luyện, hảy tận dụng thời gian này để luyện cho mình một tinh thần vững chắc hiến thân cho việc truyền giáo và coi đây là lý tưởng của đời mình, một lý tưởng tạo ra giá trị và đem lại niềm vui cho mình, một niềm vui của người cho đi nhưng được nhận lại. Điều này xem ra như là một nghịch lý của Tin Mừng: cho thì đươc, chết đi sẽ được sống như hạt lúa nếu không chết đi thì chỉ trơ trọi một mình, còn nếu chết đi (Ga 12,24), sẽ sinh nhiêu bông trái.

Kết luận: Lý tưởng truyền giáo tuy cao đẹp nhưng thật là khó. Vì vậy, phải tin và nhìn vào vẻ cao đẹp của lý tưởng cũng như tin vào sự hỗ trợ của ơn Chúa. Có như thế mới hy vọng theo đuổi lý tưởng cho đến cùng được.
Lm. Anrê Đỗ xuân Quế, OP
Nguồn:vietcatholic.net

Thế nào là “nhận thức rõ” về "ơn kêu gọi" của mình?




Làm thế nào để có thể hiểu về khái niệm “sự nhận thức rõ” (discernment) hay "phân biệt rõ". Xét về mặt chữ, “sự nhận thức rõ” có nghĩa là “tách rời ra” để chúng ta có thể phân biệt một điều gì đó đã lĩnh hội được một cách rõ ràng hơn.
Đó chính là cách mà chúng ta nhận ra ý chỉ của Thiên Chúa trong bối cảnh mà chúng ta đang sống. Hầu hết chúng ta biết được ý chỉ của Thiên Chúa bởi vì nó đã được mạc khải ra cho chúng ta thông qua những giảng dạy và cuộc sống của Chúa Kitô ở trần gian. Tuy nhiên, cũng có nhiều lúc khi ý chỉ của Thiên Chúa không rõ ràng cho lắm, và chúng ta nhận thức rằng chúng ta cần phải kiếm tìm để biết Thiên Chúa đang yêu cầu chúng ta về điều gì.

Sự nhận thức rõ” chính là một nghệ thuật, và được học hỏi bằng chính hành động, chứ không phải chỉ có đọc biết về nó mà thôi. Đó chính là chức năng thuộc về mối quan hệ của từng cá nhân với chính Thiên Chúa. Khi chúng ta mong muốn làm theo ý chỉ của Thiên Chúa, thì đó cũng có nghĩa là chúng ta đang sẳn sàng, chúng ta đang cởi mở cho chính Thiên Chúa, và muốn có một sự hiểu biết sâu sắc về Ngài, thì khi đó “sự nhận thức rõ” mới có thể trở thành hiện thực được.

Chính vì thế, việc cầu nguyện là một phần rất quan trọng trong tiến trình “nhận thức rõ” (discernment). Để thực sự trở thành một người có nhận thức rõ (discerning person), chúng ta cần phải khiêm tốn, bác ái và can đảm. Khi chúng ta trở nên quen thuộc hơn với Thiên Chúa qua lời cầu nguyện, sẽ đến và có lúc chúng ta hiểu và biết được rằng “có một tiếng nói thầm lặng nho nhỏ” (small still voice) đang nói với chúng ta trong trạng thái yên bình, tĩnh lặng, và sa mạc của tâm hồn, chứ không phải trong sự náo động, rối loạn (turmoil), hay sự lo lắng (anxiety) hoặc sự bồn chồn, không ngơi nghỉ (restlessness).

Một vài đề nghị thực tế giúp một người thanh niên trẻ tuổi biết “nhận thức rõ” về lời gọi mời vào chức vị linh mục đó là:

Dự Thánh Lễ Hằng Ngày (Daily Mass) – Người đang ý thức được ơn gọi của mình vào thiên chức linh mục nên tham dự Thánh Lễ mỗi ngày để mình có thể trưởng thành hơn nữa trong mối quan hệ với Thiên Chúa.

Bí Tích Hòa Giải (Sacrament of Penance) – Việc tham dự vào Bí Tích Hòa Giải chính là cách mà người thanh niên muốn sống một cuộc sống thánh thiện, thông qua việc xưng tội thường xuyên và bằng chính ơn huệ của Thiên Chúa.

Chầu Mình Thánh Chúa (Adoration of the Blessed Sacrament) – Đây là cách tốt và hiệu năng nhất để trưởng thành lên trong tình yêu của Chúa Thánh Thể, cũng như là cách để phát triển thêm về đời sống tâm linh.

Cầu Nguyện Mỗi Ngày (Daily Prayer) – Đây chính là lúc để dành riêng cho mỗi mình Thiên Chúa mà thôi, thường là tại một nơi yên tĩnh, vắng vẽ, hay một khoảnh khắc sa mạc nào đó, vào một khoảng thời gian cụ thể nào đó trong ngày. Thì giờ cầu nguyện này gồm có việc trò chuyện thân mật cá nhân cùng với Thiên Chúa, đọc và suy gẫm Thánh Kinh. Nên phát triển và duy trì thói quen cầu nguyện này hằng ngày, vì điều đó sẽ giúp cho người thanh niên trẻ tuổi có thể lắng nghe một cách rõ ràng hơn về lời mời gọi của Thiên Chúa.

Định Hướng Tâm Linh (Spiritual Direction) – Hãy nói chuyện với vị linh mục hay một cá nhân đạo đức, thánh thiện nào đó, hay Cha linh hướng về đời sống cầu nguyện của riêng mình, và năng tìm lời khuyên từ người này, thì đó, cũng là cách giúp người thanh niên trẻ tuổi biết “nhận thức rõ” về ơn gọi vào chức linh mục của mình.

Các Chương Trình Về Sự Nhận Thức (Discernment Programs) – Nên tham dự buổi tĩnh tâm cuối tuần tại một chủng viện nào đó, những buổi thảo luận về ơn gọi, hay tham dự vào một nhóm thảo luận của những người thanh niên trẻ khác hòng cùng giúp nhau hiểu rõ hơn về lời gọi mời của Thiên Chúa vào thiên chức linh mục.

Sùng Kính Đức Mẹ (Devotion to the Blessed Mother) – Bằng việc lần chuổi Mân Côi mỗi ngày và nhờ sự chuyển cầu mạnh mẽ của Mẹ, là điều kiện tối cần trong quá trình “nhận thức rõ” về ơn gọi linh mục.

Tham Dự Vào Hoạt Động của Giáo Xứ (Get Involved) – để phục vụ Giáo Hội. Lấy ví dụ như: viếng thăm người nghèo hay những người sa cơ bước lỡ; dạy các lớp Giáo Lý; thuyết giảng trong Thánh Lễ (lecturing at Mass); trao Mình Thánh Chúa cho các bệnh nhân; hoạt động cùng với nhóm giới trẻ của giáo xứ, vân vân, thì đó là những phương cách để có thể hiểu thêm về “sứ vụ” (ministry), hay làm tăng thêm lòng khát khao trong việc phục vụ Giáo Hội.

Nói Chuyện Với Cha Phụ Trách về Ơn Gọi (Talk to a Vocation Director) – Hòng nhận được thêm thông tin về chủng viện và về đời sống linh mục. Cha Giám Đốc Ơn Gọi cũng có thể giúp thông qua những cuộc họp thường xuyên nhằm giúp người trẻ “nhận thức rõ” được về ý nghĩa đích thực của ơn gọi linh mục.

Dịch theo Nguồn Tài Liệu D (Resource D) của Văn Phòng Đặc Trách Ơn Gọi và Đời Sống Linh Mục của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ.
Anthony Lê

Nguồn: vietcatholic.net

Nói với bạn trẻ về ơn gọi Tận Hiến



In
(Với đề tài trên đây, tôi xin được viết dưới hình thức một"Tâm thư gởi người bạn trẻ"). 
Bạn trẻ thân mến, 
Khi còn là Hồng Y, Đức Gioan XXIII, trong buổi nói chuyện với giớI trẻ thành phố Milano, đã phát biểu quan niệm của Ngài về ơn kêu gọi như sau: "Ơn kêu gọi có nghĩa là Thiên Chúa mời gọi một người vào một bậc sống và lãnh nhận một sứ mệnh; và người đó tự do và tích cực đáp lại". (Dc 1957,tr.562) Hiểu theo Đức Gioan XXIII, thì mỗi người chúng ta đều đã có ơn gọi: Ơn gọi làm Kitô hữu. Và thêm vào ơn gọi làm kitô hữu, các linh mục và tu sĩ còn có ơn gọi tận hiến hay đi tu; và những ai lập gia đình, họ có thêm ơn gọi sống đôi bạn hay làm cha mẹ. Ơn gọi đi tu hay sống đôi bạn, không mâu thuẫn với ơn gọi làm Kitô hữu, trái lại củng cố thêm, làm cho vững mạnh và phong phú hơn. Chính vì thế, trước khi nói về ơn gọi linh mục (LM 11; TG 16 ĐT 2, GM 15, GH 41), tu sĩ (DT 25, GH 47, GM 15), giáo dân (TĐ 7, GH 37), ơn gọi thừa sai (TG 23, 39-43); hay làm cha mẹ (GH 32, MV 52) v.v..., Công Đồng Vatican II đã nói nhiều đến ơn gọi làm Kitô hữu, vì đây là ơn gọi nền tảng của mọi ơn gọi (GH 10-11; 31-36; 39-41). 
Hôm nay, trong bức thư nhỏ này, tôi muốn cùng các bạn suy nghĩ về ơn gọi tận hiến, hay nói rõ ra là ơn gọi làm linh mục hay tu sĩ, làm giáo dân tận hiến, bằng cách trả lời một câu hỏi sau đây: NGƯờI TRẺ PHẢI LÀM GÌ ĐỂ NHẬN RA MÌNH ĐƯỢC CHÚA GỌI LÀM LINH MỤC, LÀM TU Sĩ HOẶC LÀM GIÁO DÂN TẬN HIẾN ? 
Bạn trẻ thân mến. 
Muốn biết mình có ơn gọi tận hiến hay không, trước tiên người trẻ phải bỏ MẶC CẢM tiêu cực cho rằng mình bất xứng, mình dốt nát, mình tội lỗi, mình thiếu tài năng... Cũng như ơn gọi làm Kitô hữu, ơn gọi làm linh mục hay tu sĩ là ơn Chúa ban. Chúa là người đi bước trước, là người đưa ra sáng kiến kêu gọi chúng ta theo Ngài. Chúa Giêsu đã nói với các Tông Đồ:"Không phải chúng con đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn chúng con". Quả vậy, Giavê đã làm cho Đavít, từ một đứa bé chăn chiên quê mùa, trở thành một tiên tri, một đại vương xây dựng và lãnh đạo dân Chúa (1Sm 16-17). Còn Chúa Giêsu, Ngài đã huấn luyện Phêrô, Giacôbê, từ những anh thuyền chài (Mc1,16-20; Mt 9,9-13), trở nên những giường cột của Giáo Hội. Nếu Chúa đã dẫn dắt Gioan Viannê, từ một cậu bé dốt nát hết chỗ nói, trở thành một linh mục, một cha sở thời danh, một vị thánh cả trong Giáo Hội (1); nếu Chúa đã trao cho Mađalêna, một người đàn bà bị tiếng xấu nết trong thành, sứ mệnh làm chứng việc Chúa sống lại (Ga 20,1-18); nếu Chúa đã gọi Bernadette, một cô gái vừa dốt, vừa nghèo, vừa tàn tật, thành nữ tu, thành người đem sứ điệp Lộ Đức cho thế giới từ hơn 100 năm nay (2)... thì tại sao ngưới trẻ còn nằm lý trong mặc cảm "bất xứng" để không bao giờ cầu nguyện với Chúa:"Lạy Chúa, con muốn làm linh mục, con muốn làm nữ tu... để phục vụ Chúa và anh em... Xin Chúa dẫn đường con đi "... Các bạn trẻ hãy xác tín rằng, nếu chúng ta thành tâm thiện chí, thì ơn của Chúa sẽ giúp cho thiện chí của chúng ta thành tựu. Xin các bạn nhớ kỹ điều này: Ơn Chúa không bao giờ chịu thua lòng quảng đại của người trẻ (3). 
Còn một thái độ tiêu cực khác cản trở ơn gọi của người trẻ, đó là Sợ HãI. Sự sợ hãi có thể đến từ mặc cảm tự ti như chúng ta vừa nói. Sự sợ hãi còn có thể đến với người trẻ từ một cách sống hay một việc làm không đúng của người đi tu, linh mục hay tu sĩ (4). Sự sợ hãi này càng lớn khi người trẻ đánh giá quá cao con người linh mục hay tu sĩ. Người trẻ cần có một quan niệm đúng về linh mục hay tu sĩ: Linh mục hay tu sĩ không xuất thân từ thế giới siêu phàm, nhưng từ những gia đình, từ những tầng lớp xã hội và từ những hoàn cảnh sống tương tự như của bất cứ một bạn trẻ nào. Linh mục và tu sĩ là những người như mọi người, và hơn thế, là những người ý thức sâu xa sự yếu hèn của mình và của nhân loại, nên muốn tìm đến CHÂN THIỆN MỸ bằng con đường tu trì, và đồng thời muốn giúp cho người khác cùng vươn tới. Đành rằng có ơn Chúa là sức mạnh, nhưng trên đường lý tưởng và trong lúc phục vụ, có những lúc, linh mục hay tu sĩ mỏi chân phải dừng lại, có những lúc tuột chân vấp ngã, hay tệ hơn, có những lúc trụt lùi... Không có gì lạ, sống giữa trần gian, là con người trần gian, linh mục hay tu sĩ có thể mang tham vọng và ngôi thứ như Gioan và Giacôbê, con bà Giêbêđê (Mt 20,20-28); có thể yếu mệt và mê ngủ như các Tông Đồ trong vườn cây dầu (Lc 22,45-46), có thể hèn nhát, trốn chạy hay chối Chúa như Phêrô (Mc 14,50-51), và cứng lòng như Thoma (Ga 20,25-28)... Do đó, người trẻ đừng hoảng hốt và nản chí, khi thấy một linh mục hay tu sĩ sai lỗi, vấp ngã. Thái độ tích cực của người trẻ lúc đó là cầu nguyện cho họ và tự nhủ với mình: "Tôi sẽ cố gắng để không làm như vậy". 
Người trẻ còn một mối sợ nữa, đó là Sợ DẤN THÂN, sợ hy sinh. Giống như người thanh niên nọ trong Phúc âm. Chàng hăm hở đến hỏi Chúa đủ điều và xin đi theo Chúa. Thế nhưng khi Chúa bảo phải bán của cải đi, rồi đến theo Chúa, chàng thanh niên lập tức tiu nghỉu và rút lui (Mt 19,16-26). Xin người trẻ nhớ hộ rằng: không có một ơn gọi, một bậc sống nào dễ dàng hết. Ơn gọi nào cũng có Thánh Giá phải vác và đường chông gai phải qua. Từ ơn gọi làm kytô hữu đến ơn gọi lập gia đình hay đi tu, tất cả đều phải dấn thân, phải chiến đấu, phải bỏ mình. Và ơn gọi làm Kitô hữu, người ta bảo: "Vào đạo thì dễ, sống đạo thì khó", và ơn gọi lập gia đình, người ta nói: "Cưới vợ lấy chồng thì dễ, sống cho trọn đạo vợ nghĩa chồng mới là khó"; và ơn gọi đi tu làm linh mục hay tu sĩ, người ta cũng nhận định: "Chịu chức linh mục hay khấn dòng là dễ, sống cho trọn vẹn đời sống linh mục hay tu sĩ mới là điều khó". Dĩ nhiên khó đây không phải là không thể được. Không thể được với sức riêng của con người, nhưng với niềm tin, với ơn Chúa mọi sự đều có thể. Hạnh phúc cho chúng ta, những Kitô hữu, những đôi bạn, những linh mục hay tu sĩ, chúng ta luôn có Chúa đồng hành. Và như Chúa đã nói với Phaolô: "Ơn Chúa luôn đủ cho chúng ta" (2Cr 12,9). Niềm tin và đời sống cầu nguyện tuyệt đối cần thiết cho chúng ta sống ơn gọi. Cứ thiện chí chiến đấu, Chúa sẽ giúp chúng ta. 
Bạn trẻ thân mến, 
Muốn thấy mình có ơn gọi làm linh mục, tu sĩ hay không, sau việc giải trừ những mặc cảm tiêu cực và sợ hãi quá đáng, người trẻ còn phải để ý đến những DẤU CHỈ tế nhị, những tiếng gọi thầm kín và nhẹ nhàng của Chúa ngay trong cuộc sống hằng ngày của người trẻ. Mỗi người có một hoàn cảnh sống, vì thế mỗi người được Chúa kêu gọi một cách khác nhau trong một hoàn cảnh khác nhau. Đọc Sách Thánh, bạn thấy Chúa gọi Maisen nơi bụi gai bốc cháy (Xh 3,1-6), Chúa gọi Isaia trong đền thờ (Is 6,1-8), Chúa gọi Giêrêmia qua cuộc đối thoại thân tình (Gr 1,1-10), và Chúa gọi Samuen giữa đêm khuya (Sm 3,1-20). Còn Chúa Giêsu, Ngài gọi Phêrô, Giacôbê và Gioan khi các ông ngồi vá lưới trên bãi biển (Mc 1,16-20, Mt 9,9-13); Ngài gọi Matthêu khi đang làm việc tại phòng thu thuế (Lc 5,27-28); Ngài gọi Phaolô khi đang phóng ngựa lùng bắt kytô hữu (Cv 9,1-8; 22,6-16; 26,12-18). Đến lượt bà Têrêsa Calcutta, bà tìm thấy ơn gọi của bà khi chứng kiến những ngườI Ấn Độ nằm chết trên vệ đường (5); Và nữ tu Emmanulle lại nhận ra tiếng Chúa khi tiếp xúc với những người nghèo sống trên bãi rác tại ngoại ô thành phố Caire nước Ai Cập (6). Rồi năm 1985, tuần báo Panorama d'Aujourd'hui đã đăng lời chứng của một sinh viên cử nhân toán 21 tuổi, tên là Adold Chassagnon. Anh đã xin vào năm dự bị trước khi nhập đại chủng viện và anh tuyên bố: "Chính trên đường đi đến nhà thờ Saint Sulpice, tôi đã mở Phúc âm ra đọc và gặp câu 'hãy để kẻ chết chôn kẻ chết' (Mt 8,22). Câu đó đã làm tôi suy nghĩ và dấn thân tìm ơn gọi" (7). Trường hợp của anh Adold Chassagnon giống phần nào trường hợp của thánh Antôn. Ngài tìm thấy ơn gọi tu hành của ngài khi dự lễ và nghe lời Phúc âm: "Ai muốn theo Ta, hãy về bán hết của cải, cho kẻ khó và đến theo Ta" (Mc 8,34). Tôi dám quyết rằng không thiếu những dấu chỉ, những lời gọi trong đời sống của mỗi người bạn trẻ. Điều cần là phải tỉnh ý nhận ra với niềm tin chân thành. Sau đây tôi xin gợi lên ít dấu chỉ liên quan đến tất cả các bạn trẻ chúng ta. 
Trước tiên là các Cộng Đoàn Công Giáo Việt Nam tại quốc gia bạn đang sống. Sự hiện diện của các linh mục và tu sĩ việt nam rất cần thiết cho sự sinh tồn của các Cộng Đoàn. Nhiều lần các Đức Giám Mục sở tại, đã kêu gọi các Cộng Đoàn Việt Nam hãy tự liệu cho có ơn gọi linh mục và tu sĩ hầu bảo đảm cho tương lai. Nói cách khác, các Đức Giám Mục muốn lưu ý riêng những người trẻ hãy nghĩ đến sự sống còn của cộng đoàn trong 15, 20 năm nữa. 
Tiếp đến là tương lai của Giáo Hội và dân tộc Việt Nam ở quê nhà. Không cần dài lời, ai cũng biết Giáo Hội Việt Nam đang bị tê liệt và bị bóp chết dần bởi chế độ vô thần. Là người trẻ Việt Nam, tương lai của Giáo Hội và của Dân Tộc, các bạn phải làm gì tích cực nhất hầu đáp ứng nhu cầu tương lai của Giáo Hội và Dân Tộc, khi lịch sử xoay vần và cho phép chúng ta trở về sống lại Quê Hương. Người trẻ đừng chỉ biết sống hôm nay, nhưng phải hãy chuẩn bị cho ngày mai, có thể là 15, 20 năm nữa. 
Mở rộng hơn nữa, người trẻ là tương lai của Giáo Hội hoàn vũ, vì thế, tôi ao ước người trẻ hãy ghi tâm lời dạy của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô, vào "năm quốc tế của giới trẻ" (1985). Ngài nói: "Giới trẻ là tương lai của Giáo Hội, người trẻ đừng mặc cảm, đừng sợ dấn thân, nhưng hãy nhớ luôn: Chúa Kytô yêu thương các bạn, Chúa Kytô kêu gọi các bạn, các bạn hãy đáp lại lời mời gọi của Ngài cách quãng đại và chân thành" (8). 
Bạn trẻ thân mến, 
Ý thức tích cực được như vậy, mỗi người bạn trẻ chắc chắn tìm thấy con đường Chúa muốn bạn đi, và sẽ cố gắng đáp lại lời Chúa thao thức: "Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt ít quá, hãy cầu xin Chúa ruộng sai thêm thợ gặt đến..." (Lc 10,2). 
Bạn trẻ thân mến, 
Dưới đây là lời kinh của bạn: 
Lạy Chúa Giêsu, / nhờ sức mạnh Chúa Thánh Thần, / xin Chúa thánh hóa các linh mục, / tu sĩ, / chủng sinh / và chiến sĩ truyền giáo. / Xin Chúa giúp họ luôn kiên trì trong đời sống thánh thiện đã lựa chọn. / Xin Chúa gìn giữ và biến cải họ / thành những cộng tác viên hoàn hảo của Chúa, / trong công việc cứu chuộc loài người. / Lạy Chúa Giêsu, / nhờ tình yêu Chúa Thánh Thần, / xin Chúa ban cho Hội Thánh thêm nhiều ơn gọi tận hiến. / Chúa biết rõ những tâm hồn / đang sẵn sàng theo chân Chúa và làm việc cho Hội Thánh. / Xin Chúa ban cho nhiều người trẻ / biết quảng đại và can đảm, / đáp lại tiếng Chúa và Hội Thánh mời gọi. / Lạy Chúa Giêsu, / nhờ lời bầu cử của Đức Maria, / xin Chúa ban cho chúng con ơn can đảm và đức khiêm nhường, / chí trung kiên và lòng yêu mến, / để chúng con góp phần mở Nước Chúa, / bằng nỗ lực yểm trợ ơn gọi sống tận hiến, / và làm việc tông đồ trong Hội Thánh Chúa. / Amen. (dựa theo lời kinh chính Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã cầu nguyện tại Vatican ngày 2.2.1983, lễ Đức Mẹ dâng Chúa Giêsu vào Đền Thờ) 
----------------------------------------------------------------------------
(1) Mgr Francis Trochu: "Le Curé d'Ars" éd. Résiac, 1998, chap.V 
"Une vocation tardive" pp. 63-74. ĐHY Ph.X. Nguyễn Văn Thuận: "Những người Lữ Hành trên Đường Hy Vọng", đọc "Thầy Vianney bền chí " tr. 23. 
(2) Phan Hữu Lộc: "Chuyện Bernadette Lộ Đức", Lavang 2001, chg I "Nghèo đến rớt mồng tơi" tr. 11-16. 
(3) Có thể đọc thêm sách "Gương Chúa Giêsu" cuốn III: "Nhớ lại Ơn Chúa" XXII, tr.220-223. 
(4) Một thí dụ nóng bỏng hiện nay là "nhiều linh mục hay tu sĩ " đã bị tố cáo và ra tòa về "tội xúc phạm đến dục tính" của trẻ em. Và bao nhiêu "trường hợp sa ngã khác" cuả linh mục, tu sĩ. 
(5) Anna Sebba "Mère Teresa", ed Golias, 1997, pp.68-77. 
(6) Pierre Lunel "Soeur Emmanelle", Ed Anne Carrière, 2000, pp.33-41. 
(7) Panorama d'Aujourd'hui, 6.1985, p. 16. 
(8) Sau đây là những con số để giúp bạn trẻ suy nghĩ: Cộng đồng Công Giáo Việt Nam Hải Ngoại, theo kết quả cuả lá thư thăm dò chúng tôi gửi đến 18 Tuyên Uý quốc gia tháng 02-2002, thì hiện nay có 2.483.250 người VN, trong đó có 665.380 người Công Giáo, nhưng chỉ có 385 linh mục, 4 phó tế lo cho 4 giáo xứ và 468 cộng đoàn (đọc bài "Lịch Sử Hình Thành và Nhân Số các Cộng Đoàn VN Hải Ngoại", đăng trong sách này). Giáo Hội Việt Nam, trong dịp Ad limina vào tháng 01-2002, và các GMVN đã tường trình lên Tòa Thánh, mặc dầu còn nhiều hạn chế, nhưng số tín hữu công giáo đã tăng 14,39% trong vòng 5 năm qua, so với gia tăng dân số là 5%. Hiện tại Việt Nam có 2.133 linh mục, 1.861 linh mục và nam tu sĩ Dòng. 9.654 nữ tu 676 chủng sinh. Dân số VN là 79 triệu người. Theo thống kê chính thức chỉ có 5,3 triệu người công giáo, tức 7%. Nhưng các GM cho biết con số chính xác được ước lượng là 8.000.000, tức 10% dân số (Radio Veritas). Giáo Hội hoàn vũ, theo niên giám của năm 2002, số tín hữu Công Giáo là 1 tỷ 50 triệu người trên 6 tỷ 47 triệu người trên thế giới. Giáo Hội có 4.541 giám mục, 405.178 linh mục, 27.824 phó tế vĩnh viễn, 55.057 nam tu sĩ, hơn 800.000 nữ tu và 126.000 thừa sai giáo dân và 1 triệu 640 ngàn giáo lý viên, và 110.500 chủng sinh (SD 9.2.02). 
Ðức Ông Mai Ðức Vinh 
Nguồn: vietcatholic.net