Thứ Bảy, 17 tháng 3, 2012

NHẬN ĐỊNH ƠN GỌI TU TRÌ



 Ơn gọi là một vấn đề rất phổ quát mà cũng rất riêng tư. Thiết nghĩ, các bạn trẻ, cũng như anh em Ứng sinh Dòng Tên chúng tôi, rất muốn tìm hiểu thêm nhiều điều thú vị xung quanh vấn đề này. Xin được chia sẻ các bạn trẻ những tác phẩm, tài liệu thiết thực về Ơn gọi, đặc biệt là Ơn gọi Dâng hiến. Ước mong, qua những chia sẻ này, chúng ta sẽ hiểu thêm về bản thân và nhận ra rõ hơn những ‘động lực ơn gọi’ bên trong mình, và hơn hết, lắng nghe tiếng Chúa Giêsu đang ân cần gọi mời trong tâm hồn.Tài liệu NHẬN ĐỊNH ƠN GỌI TU TRÌTác giả: Linh Mục Tôma Vũ Quang Trung, Giám Tỉnh Dòng Tên.

Dẫn nhập
Giáo Hội Việt Nam hiện nay là một trong số các Giáo Hội tại Châu Á đang có nhiều ơn gọi linh mục, tu sĩ. Nhiều bạn trẻ đang tiếp tục tìm đến các chủng viện, các dòng tu, đan viện, tu hội để xin được tìm hiểu ơn gọi tu trì.
Là những người được trao trách nhiệm nhận các em vào đời sống thánh hiến, chúng ta thường tự hỏi khi tiếp xúc với các em đến xin gia nhập cộng đoàn để sống đời tu trì: Động lực nào đã thúc đẩy bạn trẻ này đến đây để xin tìm hiểu và gia nhập chủng viện hoặc cộng đoàn? Đây là một câu hỏi không dễ có câu trả lời chính xác chỉ sau một vài ngày tĩnh tâm hoặc một vài tháng tìm hiểu!
Ơn gọi trước hết là một mầu nhiệm. Chúa gọi những ai Người muốn (x. Mc 3,13). Nhiệm vụ chúng ta là giúp các em khám phá ra tiếng Chúa gọi và đáp trả. Điều này diễn ra trong tiến trình nhận định ơn gọi. Tiến trình này lâu hay mau tuỳ thuộc vào việc nhận định các yếu tố liên hệ cho thấy có thể xác quyết đây là một ơn gọi thực sự.
Bài chia sẻ này xin trình bày về việc nhận định một ơn gọi, qua việc chú trọng đến việc khảo sát các động lực thúc đẩy một người trẻ đến xin gia nhập chủng viện, các dòng tu, đan viện, tu hội để trở nên các linh mục, tu sĩ.
I.        CÁC ĐỘNG LỰC Ý THỨC VÀ VÔ THỨC THÚC ĐẨY ƠN GỌI
Thế nào là động lực thúc đẩy ơn gọi? Đâu là những yếu tố can dự vào các động lực này? Một cách chung, động lực thường được hiểu như một ước muốn, một khao khát thực hiện một dự phóng, một mục tiêu nào đó của cuộc sống. Động lực này có những yếu tố bên trong và những yếu tố bên ngoài. Các yếu tố bên trong nằm ở tầng sâu thẳm của nội tâm mỗi người. Nó được diễn tả qua các ước muốn hoặc những sức mạnh lôi cuốn về một giá trị tinh thần hoặc thiêng liêng nào đó.
Trong các động lực thúc đẩy một người tìm đến một hướng sống hay một mục tiêu cho cuộc đời, cần lưu ý rằng, con người nào cũng đều có một phần tự do và một phần khác không hoàn toàn tự do. Vì vậy, những quyết định chọn lựa trong cuộc sống của mỗi người luôn chịu ảnh hưởng của mức độ tự do và không tự do của chính mình. Khi nhìn về đời sống linh mục, một chủng sinh có thể cảm thấy được lôi cuốn bởi một hình ảnh thật đẹp của một nhà truyền giáo đang vượt qua những thách đố và nguy hiểm để loan báo Tin Mừng cho các dân tộc đang sống nơi những vùng đất xa xôi, đầy gian nan, trắc trở. Một thiếu nữ có thể được đánh động bởi hình ảnh một nữ tu đang quên mình chăm sóc cho những trẻ em khuyết tật đáng thương hoặc các bệnh nhân AIDS giai đoạn cuối bị người thân bỏ rơi để đi đến quyến định chọn đời sống tu dòng. Trong sức hấp dẫn đầy lôi cuốn của những hình ảnh cao đẹp này, các bạn trẻ có thể nhận biết các động lực đang thúc đẩy trong lòng mà mình ý thức. Tuy nhiên, họ lại không thể biết đến những sức mạnh thôi thúc tiềm ẩn bên dưới nằm trong tầng sâu của vô thức. Chính những sức mạnh này ngấm ngầm chi phối cách mạnh mẽ quyết định chọn lựa hướng đi của cuộc sống mà họ không hề ý thức.
II.      NHẬN ĐỊNH VỀ CÁC ĐỘNG LỰC ƠN GỌI
Các nghiên cứu cho thấy rằng, trên bình diện ý thức, một bạn trẻ ước muốn trở nên linh mục hay tu sĩ thường bị lôi cuốn bởi lòng khao khát đi theo Chúa Giêsu qua việc dâng hiến đời mình để phục vụ tha nhân. Có bạn nói mình muốn đi tu để có thời giờ cầu nguyện và tìm sự bình an trong tâm hồn trong khung cảnh tĩnh lặng của đời chiêm niệm. Có những bạn khác khẳng định mạnh mẽ ước muốn trở nên một vị thánh. Lại không thiếu các bạn trẻ nghĩ rằng, nếu mình vào được nhà dòng, mình sẽ có cơ hội học tập tốt hơn, có thời giờ cầu nguyện nhiều hơn cho những người thân thuộc. Và biết đâu, lại chẳng có cơ hội được đi đây đi đó ra nước ngoài!
Tuy nhiên, các bạn trẻ lại ít biết rằng, bên cạnh những giá trị cao đẹp mà họ ao ước theo đuổi để thực hiện thì nơi thẳm sâu của tầng vô thức, có những sức mạnh khác thôi thúc họ chọn lựa đời tu không mấy phù hợp với các giá trị Tin Mừng, thậm chí hoàn toàn lệch lạc! Họ tìm kiếm để bù đắp một thiếu thốn sâu thẳm trong cuộc sống gia đình thời thơ ấu. Đời sống tu trì lúc này trở thành một môi trường thuận tiện có thể giúp họ thoả mãn những nhu cầu căn bản này.
Một cậu bé từ nhỏ đã luôn nghe mẹ nói: “Mẹ mong muốn con mai kia làm linh mục giống như bác con”. Ngày này qua tháng nọ, cậu bé được thấm dần ước mơ của mẹ cậu là cậu sẽ trở thành một linh mục, giống như bác cậu. Cậu vẫn hết lòng ngưỡng mộ bác cậu trong những lần bác có dịp về thăm mẹ và dâng lễ ngoài nhà thờ giáo xứ. Nghĩ về tương lai, nếu cậu làm linh mục giống bác cậu, mọi người dân trong làng sẽ kính trọng cậu. Mẹ cậu sẽ được mọi người xưng tụng là “bà cố”. Gia đình cậu sẽ được danh giá giữa xóm làng! Hướng đi tương lai của cậu như đã được xác định từ lúc cậu chưa đủ khả năng để có một quyết định chín chắn của một người trưởng thành!
Một cô bé nhà nghèo, vẫn phải đầu tắt mặt tối phụ việc với mẹ để lo kế sinh nhai cho gia đình, mà hoàn cảnh vẫn bữa đói bữa no. Nhờ các dì trong một nhà dòng gần đó giúp đỡ, cô bé mới có điều kiện đến trường. Một ngày kia, cô được mẹ gửi vào ở trong nhà nội trú của các dì. Ngày qua tháng lại, cô bé quen biết các dì hơn và sinh lòng cảm mến. Cô mong được sống như các dì mà không hề biết rằng mong ước tốt lành của cô chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của ước muốn thoát khỏi cảnh nghèo đói của gia đình, và hơn thế nữa, như một cách để trả ơn sự giúp đỡ của các dì.
Hai ví dụ trên đây cho chúng ta thấy một ơn gọi hướng đến đời sống tu trì luôn chịu ảnh hưởng bởi những động lực ý thức pha lẫn với những động lực vô thức.
Ơn gọi là tiếng gọi mầu nhiệm của Thiên Chúa dành riêng cho một người được kêu gọi và tuyển chọn cho một sứ mạng. Ngài thường dùng một số những dấu chỉ tự nhiên để lôi kéo con người đến ơn gọi này. Hai ví dụ trên đây còn giúp chúng ta hiểu được những động lực có thể thôi thúc một bạn trẻ dấn thân vào đời sống tu trì.  Đây là những dấu chỉ giúp chúng ta nhận định về ơn gọi của một bạn trẻ. Những dấu chỉ này vừa là những yếu tố bên trong, vừa là những yếu tố bên ngoài.
2.1 Các yếu tố bên trong
Khi kêu gọi ai, Thiên Chúa đặt trong lòng họ một ước ao sâu thẳm hướng họ về đời sống tu trì để trở nên linh mục, tu sĩ. Tuy nhiên, ước muốn vẫn chưa đủ. Một người có thể ước muốn bước vào đời tu với nhiều lý do khác nhau. Vấn đề là phải có động lực ơn gọi đúng đắn và trong sáng. Chính tại điểm này mà chúng ta chạm đến mầu nhiệm con người với tất cả sự phức tạp của đời sống tâm linh, nơi có sự tương tác qua lại giữa những nhu cầu vô thức và ý thức. Sự tương tác này gây ảnh hưởng lớn đến hệ thống các giá trị của một người và ảnh hưởng trên các động lực thôi thúc họ tìm đến ơn gọi. Một bạn trẻ bước vào đời tu có thể vừa do các nhu cầu, vừa do các giá trị mình theo đuổi. Vì vậy, các yếu tố bên trong của một ơn gọi có liên hệ trực tiếp đến các động lực ý thức và các động lực vô thức.
2.1.1 Các động lực ý thức
Các động lực ý thức là sự hiểu biết trực tiếp về chính mình. Các động lực này, dù chính đáng hay không, cũng vẫn dễ dàng nhận biết. Giáo Hội luôn mong chờ nơi các ứng sinh tìm đến ơn gọi với các giá trị tích cực. Một bạn trẻ có thể trả lời về lý do thôi thúc mình đi tu (1) vì mình muốn phụng sự Chúa, (2) vì mình muốn hiểu biết và yêu mến Chúa hơn, (3) vì mình muốn làm cho Nước Chúa được mở rộng, (4) vì mình muốn sống Tin Mừng sung mãn và triệt để hơn, (5) vì mình muốn cộng tác với Chúa để xây dựng thế giới này tốt đẹp hơn, (6) vì mình muốn chia sẻ niềm vui và hạnh phúc mình đang có cho người khác. Đó là những giá trị mà các bạn trẻ nhắm đến khi muốn dấn thân vào đời sống tu trì. Các động lực ý thức này thường hướng đến các giá trị thiêng liêng và tôn giáo.
Sự phức tạp trong tiến trình nhận định ơn gọi chính là mỗi người không chỉ có một động lực duy nhất khi đến với ơn gọi. Những động lực thúc đẩy ơn gọi nơi một người lại càng không hoàn toàn thuộc mức độ ý thức. Vì thế, bên cạnh những động lực ý thức vẫn có sự pha lẫn các động lực vô thức khác.
2.1.2 Các động lực vô thức
Các động lực vô thức thường rất khó nhận thấy. Thông thường, người ta cần nhờ đến các hình thức trắc nghiệm tâm lý hiện đại để khám phá ra các động lực này. Kết quả các loại trắc nghiệm này có thể giúp người ta khám phá và nhận biết mình rõ hơn. Một khi nhận biết các động lực vô thức, vốn thường bị lệch lạc và không lành mạnh, người ta có thể thanh luyện chính mình để mỗi ngày tiến đến sự tự do nội tâm hoàn hảo hơn.
Từ hai ví dụ trên đây, chúng ta có thể liệt kê ra một vài động lực vô thức thường hay tiềm ẩn dưới những giá trị tốt đẹp của bình diện ý thức như sau:          
(1)     Thực hiện ước muốn của cha mẹ
Ứng sinh được thôi thúc đến ơn gọi tu trì là để thực hiện ước muốn của cha mẹ. Chính người bạn trẻ không hề có xác tín cá nhân rằng mình nghe thấy tiếng Chúa kêu gọi và hoàn toàn muốn đáp trả tiếng gọi ấy. Khi nhận ra điều này, ứng sinh nhiều khi không đủ can đảm xin chuyển hướng khi biết rõ mình không có ơn gọi vì sợ làm cha mẹ buồn và thất vọng về mình. Nhưng khi cha mẹ không còn, thì việc chuyển hướng sẽ xảy ra vì động lực ơn gọi không còn nữa. Khi ấy, có thể ứng viên đã là một linh mục hay nữ tu nhưng lại không đủ sức tiếp tục con đường mà mình cho là đã chọn lựa một cách sai lầm trước đó chỉ để làm vui lòng cha mẹ! Nếu không bỏ cuộc thì đời sống tu trì lúc đó sẽ không còn ý nghĩa nữa. Nó chỉ là một chuỗi ngày kéo lê với tất cả mọi sự hỗn độn của nó, gây ra không ít khó khăn cho bản thân của người ấy vì không tìm được niềm vui và hạnh phúc, cho đời sống cộng đoàn và cho sứ mạng phục vụ của Giáo Hội.
Sự hiện diện của các linh mục, tu sĩ trong bà con họ hàng có thể ảnh hưởng đến việc chọn lựa ơn gọi của một ứng sinh. Ảnh hưởng này có thể tốt hoặc xấu tuỳ trường hợp. Nếu ứng sinh bị cuốn hút vì những giá trị tinh thần và thiêng liêng cao đẹp nơi sự dấn thân của các linh mục, tu sĩ này thì sự hiện diện đó sẽ sẽ ảnh hưởng tốt trên ơn gọi của ứng sinh. Ngược lại, nếu ứng sinh chỉ bị lôi kéo về các giá trị có vẻ thế tục ngoài xã hội như thấy họ có địa vị cao, được mọi người kính trọng, có cuộc sống đầy đủ tiện nghi… thì sự hiện diện này sẽ ảnh hưởng xấu trên ơn gọi của ứng sinh. Lúc đó, ứng sinh có thể theo đuổi ơn gọi để tìm kiếm các giá trị thế tục này cho bản thân mình.
(2) Ước muốn phát triển bản thân
Một bạn trẻ có thể được thôi thúc bước vào đời tu như một con đường tiến thân mở ra một bảo đảm tương lai cho bản thân. Lúc ấy, đời tu như một môi trường thuận lợi để phát triển các tài năng cá nhân. Việc phục vụ trở nên một cơ hội phô trương cái tôi trước mặt mọi người. Đặc biệt, trong bối cảnh hôm nay của Giáo hội Việt Nam, nhiều bạn trẻ gõ cửa các nhà dòng, tu hội là để có cơ hội học hành tốt hơn, thậm chí chỉ là để được đi ra nước ngoài. Khi mục tiêu này trở thành đích nhắm của ơn gọi, người ta sẵn sàng chấp nhận uốn mình vào kỷ luật đời tu trong thời gian huấn luyện để ráng “nín thở qua sông”. Qua tới bờ bên kia, họ trồi lên khỏi mặt nước và tiếp tục con đường của riêng mình!
(3)  Thoát khỏi cảnh nghèo
Ơn gọi tại Việt Nam hôm nay đa số phát xuất từ những gia đình nghèo ở miền quê. Điều này cũng có thể ảnh hưởng đến việc theo đuổi ơn gọi của ứng sinh. Kinh nghiệm thiếu thốn về đời sống vật chất khi còn ở gia đình có thể biến việc theo đuổi ơn gọi như một bù trừ nhằm thoát khỏi cảnh nghèo đói. Đời tu được xem như bảo đảm chắc chắn về đời sống vật chất và sự an toàn cho tương lai. Khi có được những điều mình tìm kiếm, đời tu cũng sẽ chẳng còn ý nghĩa!
(4) Mong được người khác chú ý
Đây là một nhu cầu phát xuất từ khuynh hướng sâu thẳm rất tự nhiên nơi con người: nhu cầu được mọi người chú ý đến. Việc theo đuổi đời tu là một chuỗi ngày tìm kiếm, lôi kéo sự chú ý của người khác dưới mọi hình thức. Những người này thường làm ra vẻ “nhân vật quan trọng”, thường hay lăng xăng trong những dịp đại lễ dù mình chẳng có nhiệm vụ gì! Việc học tập, thay vì được nhìn như phương tiện để có khả năng phục vụ, lại trở thành cơ hội tốt để chơi trội, để “nổi” hơn người khác. Những người này dễ có thái độ ghen tương với bất cứ ai trong cộng đoàn được chú ý hơn họ, hoặc ngấm ngầm tìm cách loại trừ, hạ bệ những ai có khả năng vượt trội hơn họ. Họ không thích làm những việc âm thầm nhưng tìm mọi cách để cho người khác nhìn thấy mình mà ca ngợi.
(5) Mong được người khác nhận biết
Ước muốn được người khác nhận biết cũng là một khuynh hướng căn bản và thâm sâu nơi con người. Khuynh hướng này có thể chi phối các hoạt động của một ơn gọi trong sứ mạng phục vụ. Thay vì nhắm đến ích lợi của người mình được sai đến để phục vụ thì lại tìm kiếm những ích lợi riêng cho chính bản thân mình.
(6) Mong được người khác chấp nhận
Được người khác chấp nhận cũng có nghĩa là được yêu thương, được thấy mình có giá trị. Một người để khuynh hướng này lấn át trong những quyết định chọn lựa hướng đi thì sẽ không đủ cam đảm để đứng về phía chân lý và khó có thái độ cương quyết khi phải quyết định một điều chính đáng và đúng đắn mà làm phật lòng kẻ khác. Lối sống này dễ đưa đến tình trạng “dĩ hoà vi quý”, hoà bình bằng mọi giá, miễn sao mình được người khác chấp nhận là được, không dám lên tiếng trước những sai trái của người khác!           
(7) Ước muốn bù trừ sự thiếu vắng tình cảm trong gia đình
Đây cũng là một sức mạnh tiềm ẩn không ngừng thôi thúc ứng sinh nhằm tìm kiếm bù trừ những thiếu vắng trong các tương quan của thời thơ ấu, đặc biệt trong lĩnh vực tình cảm. Sự thiếu vắng tình cảm của người cha hoặc người mẹ trong những năm tháng ấu thơ dễ làm cho đời sống cảm xúc của một ứng sinh mất đi sự quân bình. Sự thiếu vắng này thôi thúc ứng sinh thiết lập các tương quan khả dĩ bù đắp được những thiếu vắng về nhu cầu tình cảm của bản thân. Những thôi thúc này, nếu không được đưa ra ánh sáng ý thức để thanh luyện và trưởng thành về tâm cảm, sẽ đưa ứng sinh đến các tương quan thiếu lành mạnh, thậm chí nguy hiểm dưới những hình thức “yêu riêng” hoặc lệch lạc tình cảm trong đời tu, gây ra những xáo trộn và ảnh hưởng không tốt đến đời sống chung của một cộng đoàn.
(8) Tìm kiếm sự an toàn cho bản thân
Đời tu được tìm kiếm như một thành luỹ vững chắc cho tương lai. Sự bảo đảm về vật chất và sự an tâm về tương lai biến đời tu như một lối đi an toàn cho bản thân. Những người này sẽ ít dám liều lĩnh dấn thân trong các sứ vụ đụng chạm đến sự an toàn của bản thân, đặc biệt trong những lãnh vực khó khăn hoặc những sứ vụ nhiều thử thách, nguy hiểm đòi sự can trường và tín thác vào quyền năng Chúa.
(9) Tìm kiếm sự kính trọng, danh dự
Đời tu có thể bị biến tướng thành một cuộc tìm kiếm ngấm ngầm hư danh của thế gian nơi những thành công của các công việc tông đồ. Lời khen, tiếng chê của người khác dễ gây ảnh hưởng trên quyết định chọn lựa của ứng sinh trong sứ mạng phục vụ. Đặc biệt, yếu tố danh dự gia đình dễ gây ảnh hưởng lớn đến quyết định theo đuổi ơn gọi của ứng sinh, làm cho ứng sinh mất đi thái độ tự do nội tâm cần thiết trong việc nhận định, tìm kiếm và thi hành thánh ý Chúa trong cuộc đời mình.
(10) Sợ hãi người khác phái
Những kinh nghiệm tiêu cực trong thời gian thơ ấu đối với người khác phái sẽ để lại một nỗi sợ hãi đầy lo âu xao xuyến nơi tâm lý ứng sinh. Quyết định theo đuổi ơn gọi trong đời sống độc thân khiết tịnh vì Nước Trời vốn là một giá trị thiêng liêng tích cực, có thể trở thành sự che đậy nỗi sợ hãi đối với người khác phái khi ứng sinh chọn đời sống tu trì như một tránh né những phiền toái của đời hôn nhân do nỗi sợ hãi này gây ra. Điều này lại càng đúng nếu vết thương tâm lý do một biến cố quá khứ để lại vết thương khó chữa trị trong đời sống tinh thần và tâm linh của ứng sinh. Nỗi sợ hãi này có khi làm tê liệt khả năng thiết lập những tương quan tốt đẹp và lành mạnh trong sứ mạng phục vụ đối với tất cả mọi người khác phái.
Những động lực vô thức trên đây thường xuất phát từ những nhu cầu căn bản không được thoả mãn của thời thơ ấu. Nếu tình trạng này không được đưa ra ánh sáng ý thức để hiểu biết về chính mình, để được thanh luyện và điều chỉnh, thì tiến trình theo đuổi ơn gọi của một bạn trẻ sẽ dễ bị lệch lạc và thiếu vắng sự tự do nội tâm cần thiết cho mọi quyết định của một người trưởng thành về tâm cảm, về thiêng liêng và chín chắn trong ơn gọi. Vai trò của các vị đồng hành thiêng liêng trong tiến trình giúp đỡ các ứng sinh nhận định về ơn gọi của mình hết sức quan trọng. Điều này không chỉ tiến hành trong thời gian của một cuộc tĩnh tâm nào đó là đủ. Nó cần một sự thanh luyện và hoán cải liên tục trong suốt chặng đường ơn gọi để đi đến sự tự do nội tâm hoàn toàn để trở nên một dụng cụ mềm dẻo, dễ sử dụng và hữu hiệu trong bàn tay quyền năng Chúa.
2.1.3  Dụ ngôn lúa tốt và cỏ lùng (Mt 13,24-30)
Dụ ngôn này là một hình ảnh Kinh Thánh có thể  minh hoạ cho chúng ta hiểu rõ hơn về tình trạng lẫn lộn các động lực ý thức và các động lực vô thức trong một ơn gọi cũng như cách thức chúng ta cần tiến hành đối với cả hai loại động lực này.
Người đi gieo hạt giống tốt tương trưng cho một bạn trẻ đến với ơn gọi linh mục tu sĩ với tất cả động lực trong sáng, lành mạnh. Kẻ thù gieo cỏ lùng giữa đồng lúa ban đêm tương trưng cho sự hiện diện của các động lực vô thức không mấy phù hợp với các giá trị Tin Mừng.
Khi lúa mọc lên thì cỏ lùng cũng xuất hiện. Điều này làm cho người gieo giống tốt bối rối và lúng túng. Đó là sự lúng túng của người bạn trẻ tự hỏi không biết mình có ơn gọi tu trì không khi thấy các động lực vô thức lệch lạc xuất hiện trên bình diện ý thức.
Khuynh hướng tự nhiên của người bạn trẻ khi thấy những động lực vô thức xuất hiện là nghĩ đến mình bất xứng với ơn gọi cao quý nên lìa bỏ ơn gọi hoặc nghĩ rằng mình không có ơn gọi. Thái độ này tựa như thái độ của những đầy tớ đề nghị với chủ cho đi nhổ tất cả cỏ lùng trong ruộng lúa đang xanh tốt. Thế nhưng nếu họ làm như vậy thì sẽ có hại đến các cây lúa đang mơn mởn phát triển. Sẽ có những thời điểm thuận tiện để làm công việc luyện lọc này. Cần để cả lúa tốt lẫn cỏ lùng lớn lên đến mùa gặt. Đây là thời điểm một ơn gọi trưởng thành. Sự phát triển nhân bản, thiêng liêng cùng với cảm thức về nhân vị, về căn tính, về trách nhiệm sẽ cùng lớn lên theo. Đó là lúc ngưới ta có khả năng đối diện với các động lực vô thức cách trưởng thành hơn và thích hợp hơn. Đó cũng là lúc ngưới ta có thể đi đến những quyết định tự do hơn dựa trên những gì mình nhận định để sống phù hợp hơn nữa với các giá trị Tin Mừng.
2.1.4  Phân loại ứng sinh
Dựa trên sự pha trộn giữa những động lực ý thức và những động lực vô thức, chúng ta có thể đưa ra 3 loại ứng sinh đến với ơn gọi linh mục tu sĩ:
(1) Ơn gọi như tìm kiếm một địa vị xã hội
Sức hấp dẫn của ơn gọi tu trì đối với loại ứng sinh này là sự pha trộn giữa các thôi thúc ý thức với các thôi thúc vô thức. Trên bình diện ý thức, ứng sinh hiểu rằng ước muốn hy sinh sống đời tu trì sẽ được bù đắp bằng việc đạt đến một vị trí đáng được người khác kính trọng. Tuy nhiên, vẫn có những thôi thúc vô thức đi liền với những chọn lựa ý thức của ứng sinh như ước muốn được người khác chú ý, được nhìn nhận, được kính trọng, được phát triển tài năng cá nhân, thoát khỏi cảnh nghèo... Cũng có khả năng ứng sinh bị cuốn hút bởi các yếu tố bên ngoài như tu phục, biểu tượng của sự quý mến của mọi người hay một bậc sống được mọi người trân trọng.
(2) Ơn gọi như thực hiện một công việc mình thích
Sức hấp dẫn ứng sinh loại này đến với ơn gọi tu trì là một công việc, một sứ mạng cụ thể nào đó. Cuộc sống tu trì là một công việc cụ thể hơn là sự cam kết dâng hiến bản thân.
Xét về động lực ý thức thì nó có thể tích cực hoặc tiêu cực. Tích cực, nếu sức hấp dẫn đến từ một sứ mạng hoặc một sự dấn thân phục vụ. Tiêu cực, nếu nó không đưa đến sự thanh luyện. Điều gì sẽ xảy ra cho một linh mục hoặc một nữ tu loại này nếu vì một tai nạn hoặc một sự cố nào đó, họ không còn khả năng làm việc đó nữa? Điều gì sẽ xảy ra nếu dòng tu ấy không còn điều kiện thi hành sứ mạng qua công việc phục vụ đó nữa? Ví dụ, một thiếu nữ đi tu chỉ vì thích dạy học nhưng bây giờ cộng đoàn không được quyền mở trường nữa chẳng hạn? Có khá nhiều bạn trẻ đến với ơn gọi linh mục tu sĩ thuộc loại thứ hai này. Họ cần được thanh luyện khỏi các động lực vô thức thường không phù hợp với các giá trị Tin Mừng.
(3) Ơn gọi như một dấn thân do xác tín về một giá trị thiêng liêng
Sức hấp dẫn ứng sinh loại này đến với đời sống tu trì là ước muốn gặp gỡ sâu xa với Chúa Giêsu. Họ muốn nên giống Chúa Giêsu trong cung cách hành xử, nơi các nhân đức, các giá trị. Họ ý thức đây là một tiến trình đòi hỏi sự hoán cải liên tục về các thôi thúc, cũng như việc nhận định thiêng liêng để đáp lại lời mời gọi và vượt qua những thách đố để thực thi sứ mạng hằng ngày. Họ ước muốn dấn thân trong ơn gọi để trao ban hơn nữa. Họ trưởng thành về tâm lý và thiêng liêng. Nếu xét về tỉ lệ, ứng sinh loại này chỉ chiếm một số ít. Họ vẫn có những ước mơ đóng góp vào việc làm biến đổi thế giới và làm cho thế giới trở thành một nơi xứng đáng hơn để ở. Họ sinh nhiều hoa trái thiêng liêng trong cuộc sống dâng hiến và tông đồ.
Trong hoàn cảnh thực tế hiện nay của Việt Nam, các bạn trẻ cần được chuẩn bị trong những năm tìm hiểu và nhận định ơn gọi để có thể đi từ loại một và loại hai sang loại ba. Các ứng sinh loại cuối cùng này sẽ có sự bền vững nhất trong tiến trình theo đuổi và sống ơn gọi dâng hiến và tông đồ cách sung mãn. Đây là loại ứng sinh có những dấu chỉ tốt nhất về ơn gọi tu trì.
2.2 Các yếu tố bên ngoài
Ngoài các yếu tố quan trọng bên trong, chúng ta còn chú ý nhận định một số các yếu tố bên ngoài sau đây xem ứng sinh có phù hợp với ơn gọi không:
(1) Sức khoẻ: Ứng sinh cần có sức khoẻ tốt và bền bỉ để có thể theo đuổi ơn gọi và thi hành sứ mạng tông đồ trong tương lai. Hiện nay, nên chú ý đến tình trạng bệnh lý về tim mạch do cuộc sống có nhiều căng thẳng gây ra nơi các em. Cần lưu ý đến các yếu tố tâm lý có thể ảnh hưởng đến sức khoẻ thể lý, đặc biệt những xung đột nội tâm.
(2) Tuổi tác: Không nên quá trẻ, cũng không nên quá lớn tuổi. Độ tuổi tốt nhất hiện nay khoảng từ 18 đến 24 tuổi. Tuổi càng lớn sẽ càng khó huấn luyện vì hầu hết nhân cách và quan niệm sống của một người đã hình thành. Ứng sinh càng lớn tuổi càng khó có khả năng biến đổi trong quá trình huấn luyện.
(3) Trưởng thành thiêng liêng: Có nền tảng cần thiết cho một đời sống đức tin vững chắc vào Thiên Chúa. Biết cách cầu nguyện và suy niệm Lời Chúa. Yêu mến sự gắn bó kết hiệp mật thiết với Chúa. Siêng năng lãnh nhận các bí tích, đặc biệt bí tích Hoà Giải và Thánh Thể. Có hiểu biết căn bản về Giáo lý Công giáo. Tham gia một số các hoạt động tông đồ cụ thể trong giáo xứ hoặc những hình thức phục vụ xã hội khác. Có những đức tính căn bản như sự chân thật, lòng trung tín, quảng đại phục vụ, không sợ hy sinh.
(4) Trưởng thành tâm cảm (Psycho-emotional maturity): Ứng sinh cần có mức độ trưởng thành về tâm cảm cần thiết để cuộc sống được quân bình trong mối tương quan với những anh chị em khác trong cộng đoàn. Có khả năng thiết lập những tương quan lành mạnh trong đời sống tông đồ phục vụ. Cần chú ý đặc biệt khả năng sống đời sống khiết tịnh thánh hiến trong bối cảnh xã hội văn hoá mở cửa hôm nay. Không rơi vào các mặc cảm tự ti hoặc tự tôn vốn cản trở sự phát triển của một nhân cách tôn giáo lành mạnh. Khả năng biết mình và sống tự do nội tâm.
(5) Khả năng trí thức: Cần có khả năng trí thức trung bình hoặc cao hơn tuỳ mức đòi hỏi của chủng viện, dòng tu, tu hội. Khả năng này nhằm đáp ứng việc tiếp nhận những kiến thức về đời sống đức tin, những môn học cần thiết trong quá trình huấn luyện. Khả năng này thường được đánh giá qua chỉ số IQ (Intelligence Quotitent). Nhưng cần lưu ý, chỉ số này chỉ mang tính tham khảo về khả năng ứng sinh chứ không có tính quyết định để được nhận hay không. Một ứng sinh có thể rất thông minh nhưng lại thiếu khả năng sống tương quan trong cộng đoàn hoặc khả năng tạo lập những tương quan lành mạnh với tha nhân trong cuộc sống phục vụ. Các nghiên cứu chuyên môn cho thấy không có mối tương quan chặt chẽ giữa chỉ số thông minh (IQ) và mức độ trưởng thành về tâm cảm (EQ).
(6) Một số các đòi hỏi khác: Tuỳ theo mỗi linh đạo và đặc sủng phục vụ mà ứng sinh cần đáp ứng một số các điều kiện khác như khả năng viết lách, thuyết giảng, chăm sóc bệnh nhân, sống với người nghèo, thích ứng được với các vùng truyền giáo…
LỜI KẾT
(1) Vừa là một mầu nhiệm đến từ tiếng gọi của Thiên Chúa, vừa là một tiến trình nhận định thiêng liêng từ phía con người để đọc và khám phá ra dấu chỉ ơn gọi nơi các bạn trẻ, tiến trình nhận định ơn gọi tu trì vừa đòi hỏi những vị đồng hành thiêng liêng nhiều kinh nghiệm nhân bản và thiêng liêng, vừa có những hiểu biết sâu xa về con người, đặc biệt là hiểu được tâm thức và ngôn ngữ của các bạn trẻ hôm nay để giúp họ khám phá tiếng gọi của Chúa và quảng đại đáp trả.
(2) Để vun trồng ơn gọi nơi người trẻ, ước muốn mà thôi vẫn chưa đủ. Cần giúp các bạn trẻ hiểu biết và nhận ra điều gì đang thúc đẩy mình tìm đến với ơn gọi. Cần làm sáng tỏ cả động lực ý thức lẫn các động lực vô thức để đi đến một nhận định thiêng liêng sâu xa về lịch sử  của từng ơn gọi.
(3) Ơn gọi, trước hết là lời mời gọi trở nên một con người có niềm tin sâu xa vào Thiên Chúa. Kế đến là lời mời gọi bước vào một lối sống, lối sống nhân bản, làm người, nền tảng căn bản cho mọi tiếng gọi khác. Từ đây, người trẻ mới có khả năng đáp trả tiếng gọi của niềm tin, đi theo Chúa Kitô một cách triệt để trong đời sống tu trì và dâng hiến của linh mục, tu sĩ để lớn lên trong sự phát triển hài hoà giữa nhân bản và thiêng liêng nhờ hiểu biết hơn về chính mình.
(4) Dù con người có một phần tự do và một phần không hoàn toàn tự do nhưng Thiên Chúa mời gọi chúng ta lớn lên trong tự do mà Chúa đã tạo dựng. Chúa muốn chúng ta tự do trong việc đáp trả tiếng Chúa kêu gọi khi quyết định chọn lựa đời sống linh mục, tu sĩ.
(5) Động lực ơn gọi là nhân tố chính yếu để bảo đảm cho sự bền vững của ơn gọi tu trì. Mỗi ơn gọi đều pha trộn giữa những động lực ý thức với những động lực vô thức. Những động lực vô thức cần được đem ra ánh sáng để được thanh luyện từ từ theo các giá trị Tin Mừng. Nếu những động lực vô thức này không được thanh luyện, một người sẽ trở nên khuyết tật về nhân cách và không thể trưởng thành để sống ơn gọi linh mục tu sĩ cách tốt đẹp và đem lại hoa trái thiêng liêng cho cuộc sống phục vụ.
(6) Sau cùng, ơn gọi tu trì hướng đến tâm điểm là chính con người của Đức Giêsu, mẫu mực của mọi ơn gọi. Đáp lại tiếng Chúa mời gọi là noi theo cung cách sống và hành xử của chính Chúa trong sứ mạng yêu thương và phục vụ cho sự sống của tha nhân như Chúa Giêsu: “Tôi đến để cho đoàn chiên được sống và sống dồi dào”(Ga 10,10).
CÂU HỎI GỢI Ý THẢO LUẬN

* * * * *
1. Trong bối cảnh xã hội và Giáo Hội Việt Nam hôm nay, đâu là các động lực ơn gọi khá phổ biến mà chúng ta thường gặp thấy nơi các bạn trẻ ước mong trở nên linh mục, tu sĩ?

2. Theo kinh nghiệm của Anh Chị, làm thế nào để giúp các bạn trẻ tìm hiểu ơn gọi khám phá và thanh luyện các động lực vô thức nơi ơn gọi của mình?

3. Đâu là vai trò của vị đồng hành thiêng liêng trong tiến trình giúp người bạn trẻ nhận định về ơn gọi của mình

[1] Trình bày dựa theo những ý tưởng chính của bài thuyết trình “Beneath and Beyond the Roman Collar and the Habit: Motivations For Priestly and Religious Vocation” của Sr. Judette Gallares, RC. Tại Hội nghị Chuyên đề về Ơn gọi tại Châu Á do Liên HĐGM Châu Á (FABC) tổ chức tại Trung tâm Huấn luyện Mục vụ Tổng Giáo phận Bangkok, Thái Lan, Baan Phu Wann, ngày 23-10-2007, với ứng dụng vào hoàn cảnh cụ thể của Giáo Hội tại Việt Nam.
(Theo betrenthuongcap.net )

CÁC KHÍA CẠNH THẦN HỌC CỦA ƠN GỌI TU SĨ

Từ thời Trung Cổ, ơn gọi tu sĩ được đồng hóa với việc khấn giữ công khai ba lời khấn trong cộng đoàn. Một quan niệm nào đó đã được thoát ra từ sự phân biệt giữa các giới răn và lời khuyên (Phúc âm). Những giới răn dành riêng cho các giáo dân và các lời khuyên dành cho các tu sĩ. Từ đó phát xuất ý niệm thường thấy về một sự trổi vượt của đời sống tu sĩ trên đời sống giáo dân trong trật tự thánh thiện, chỉ các tu sĩ mới được kêu gọi đến « bậc sống hoàn hảo ». Viễn ảnh của Vatican II thì khác.Sau khi cho thấy sự ưu tiên của ơn gọi phép Rửa của mọi tín hữu, ơn gọi tham dự vào ba chức vụ của Chúa Kitô tư tế, ngôn sứ và vương đế, và sau khi đã định nghĩa các thừa tác vụ như là được tấn phong cho sự tăng trưởng của Dân Thiên Chúa theo ba chiều kích này, Hiến chế Lumen Gentium nhấn mạnh ơn gọi nên thánh phổ quát trong Giáo Hội. Và chỉ như thế mà nó định vị ơn gọi tu sĩ như là được liên kết mật thiết với mầu nhiệm của Giáo Hội và với sứ mạng của nó : đời sống tu sĩ, dù không thuộc về cấu trúc phẩm trật của Giáo Hội, nhưng được sống bởi những những người chịu phép rửa, đến từ bậc sống giáo dân cũng như bậc sống giáo sĩ. Viễn ảnh đã thay đổi, cũng như từ vựng. Dù hoàn toàn lấy lại đề tài các lời khuyên phúc âm và ơn gọi đặc biệt, nó nhấn mạnh đến ý tưởng thánh hiến (consécration), đặc sủng, khấn công về một hình thức sống (forme de vie) biểu lộ, giữa lòng Giáo Hội, trong một dòng tu, hình thức sống của chính Chúa Kitô. Trong nhiều văn kiện chính thức, Giáo Hội lấy lại giáo huấn này cho đến ngày nay : Tông huấn Evangelica Testificatio (1) của Đức Phaolô VI (1971), Tông huấn Redemptionis Donum (2) của Đức Gioan Phaolô II (1984), tiếp theo sau văn kiện Những yếu tố chủ yếu của đời sống tu sĩ tông đồ (3) (Eléments essentiels de la vie religieuse apostolique) (1983), chính nó là văn kiện theo sau của Bộ Giáo Luật mới và cuối cùng Tông huấn Vita Consecrata (1996) (4). Từ toàn bộ này, chúng tôi sẽ giữ lại hai yếu tố cấu thành của đời sống tu sĩ làm sáng tỏ ý niệm ơn gọi : sự thánh hiến và hình thức sống. Lễ Khấn tại Dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm, Huế. (photo Vietcatholic)

I. Sự thánh hiến.
Thành ngữ « đời sống thánh hiến » được Đức Gioan Phaolô II sử dụng không chỉ bao hàm sự đa dạng của các hình thức sống này (ẩn tu, đồng trinh, các hội đời sống tông đồ, các tu hội đời, các tu hội tu sĩ), nhưng còn để nhấn mạnh mối liên hệ giữa sự thánh hiến phép rửa và sự thánh hiến tu sĩ. Cũng thế, Vatican II : « Qua các lời khấn…người tín hữu hiến thân phụng sự Thiên Chúa bằng một danh hiệu mới mẻ và hoàn toàn đặc biệt…Chắc chắn nhờ phép Rửa, họ đã chết cho tội lỗi và được thánh hiến cho Thiên Chúa; nhưng họ tìm cách thâu lượm hoa trái dồi dào hơn của ân sủng phép Rửa và nhờ việc khấn giữ các lời khuyên Phúc Âm trong Giáo Hội, họ muốn thoát ly khỏi những ngăn trở có thể làm họ không nhiệt tâm yêu mến và tôn thờ Thiên Chúa cách hoàn hảo; và họ tận hiến để phụng sự Thiên Chúa cách thân tình hơn » (LG 44). Trong Vita consecrata, « những người được thánh hiến lãnh nhận (từ Chúa Kitô và từ Giáo Hội) một sự thánh hiến mới mẻ và đặc biệt mà, dù không phải là bí tích, giúp họ cam kết chọn theo hình thức sống mà Chúa Giêsu đã thực hiện cách cá nhân và đề nghị cho các môn đệ của Ngài » (số 31). Sự thánh hiến này, là sự đào sâu sự thánh hiến của phép Rửa, không phải là một hệ quả tất thiết của nó. Vì, nếu mọi người chịu phép Rửa đều được kêu gọi thực hành các lời khuyên (Phúc âm) theo bậc sống của mình, thì phép Rửa tự nó không bao gồm lời kêu gọi sống độc thân hay khiết tịnh, sự từ bỏ sở hữu của cải, vâng phục bề trên… « Bởi thế, việc khấn giữ các lời khuyên phúc âm này giả thiết một ân huệ đặc biệt của Thiên Chúa mà không phải được ban cho hết mọi người (Mt 19, 10-12 » (số 30). Từ đó, làm thế nào để hiểu ơn gọi đặc biệt này, mà không phải hết thảy mọi người đầu được kêu gọi ? Để hiểu bản chất và căn tính của nó, chắc chắn, cần phải đặt nó trong nhiệm cục của ơn cứu độ. Quả thế, ở Israël và trong Giao Ước đầu tiên, sự độc thân không được thừa nhận như là ơn gọi. Hôn nhân là một bó buộc tự nhiên, được biểu lộ bằng lời « hãy tăng trưởng và sinh sản », và bằng sự cần thiết đảm bảo nòi giống Abraham. Nhưng, nếu nhìn vào sự dễ dãi trong việc ly dị, thì người ta cũng công nhận sự mong manh của mối liên hệ hôn nhân. Vì như mọi người phải kết hôn, nên thật sự không có « ơn gọi » hôn nhân, vì không có sự chọn lựa ưng thuận tự do. Bởi thế, Chúa Kitô, Đấng thể hiện như là Hôn phu của Israël, đến thiết lập một trật tự mới. Từ nay, trong Giao Ước mới có hai ơn gọi, cả hai hoàn toàn biểu lộ trật tự mới này và được đánh dấu bằng những đòi hỏi của nó : hôn nhân một vợ một chồng và chung thủy, từ đó sự ly dị bị loại bỏ, không còn « tự nhiên » hơn sự độc thân, và qua dấu chỉ bí tích của nó, biểu lộ sự kết hiệp với Chúa Kitô và Giáo Hội, và sự khiết tịnh, qua sự thánh hiến của nó, biểu lộ sáng kiến tình yêu của Chúa Kitô và tính triệt để của một lời đáp trả nắm lấy toàn thể cuộc sống con người. Theo nghĩa này, sự thánh hiến tu sĩ biểu lộ rõ bản chất sâu xa của ơn gọi kitô giáo của hết thảy mọi người, và hiện tại hóa việc hướng đến của tất cả Giáo Hội-Hôn thê tới sự kết hiệp với vị Hôn phu độc nhất. Từ đó, sự tồn tại của ơn gọi tu sĩ trong Giáo Hội đặt ra thế đôi ngã của một chọn lựa mà trao cho bậc sống của mỗi người, độc thân hay hôn nhân, đặc tính của một ơn gọi -tức là của một lời kêu gọi biểu lộ mầu nhiệm của Giáo Hội cách này hay cách khác- trong tính bổ sung soi sáng nó.

Từ nay, không tất thiết phải lập gia đình, cũng không tất thiết bước vào đời tu trì. Tính đôi ngã đã được đặt ra, nó cho phép chọn lựa một bậc sống trong tự do, tùy theo tiếng gọi được lãnh nhận. Phải chăng người ta sẽ bảo rằng ơn kêu gọi đời sống thánh hiến là trổi vượt hơn ? Đức khiết tịnh chẳng trỗi vượt hơn hôn nhân sao, như Công đồng Trentô khẳng định mạnh mẽ chống lại sự chối bỏ của phái Luther ? Nếu qua đó người ta muốn nhấn mạnh tính trỗi vượt tu luyện hay công trạng của đức khiết tịnh, thì rõ ràng là sai lầm. Chẳng phải Công đồng khẳng định rất đúng đắn rằng hồng ân khiết tịnh hay độc thân cho phép « dâng mình cho chỉ mình Thiên Chúa cách dễ dàng hơn và với một tấm lòng không chia sẻ » ? Người ta chỉ có thể nói rằng, về mặt khách quan, và được dành riêng cho sự thánh thiện của con người, đức khiết tịnh, bởi vì nó diễn tả hình ảnh cánh chung của Vương Quốc nơi không có vợ cũng chẳng có chồng, bao gồm một đặc tính tận căn mà hôn nhân không có. Hôn nhân kéo dài và biến đổi mối quan hệ Giao ước được Thiên Chúa thiết lập với nhân loại. Bậc sống khiết tịnh thì hoàn toàn mới mẻ, vì nó được thiết lập bởi chính hành vi của Chúa Kitô, Đấng đã chọn nó cho Ngài và kêu gọi những người khác theo Ngài, để biểu lộ sự hiện diện của Vương quốc trong sự Tạo thành mới : nó biểu thị Tân Ước như thế, khác biệt với Cựu Ước. Và vả lại, đó là lý do tại sao, trên bình diện chủ thể, đức khiết tịnh giả thiết, khác với hôn nhân chung cho hết mọi người, sự hiện diện của một đặc sủng, nghĩa là của một ơn gọi đặc biệt, của một tiếng gọi cá nhân kết hợp với ân huệ của Thánh Thần. Do đó, Tông huấn Vita Consecrata, khi chối bỏ từ vựng tính trổi vượt (supériorité), thích nói hơn rằng đời sống thánh hiến, về mặt khách quan, nằm « ở một cấp bậc tuyệt hảo », xét như là nó được kêu gọi để phản ảnh chính cách thế mà Chúa Kitô đã sống. Lễ Khấn tại Dòng Biển Đức, Thiên An, Huế.

II. Hình thức sống
Những lối diễn tả này : cách sống, hình thức sống, mà trở lại thường xuyên trong các văn kiện hậu công đồng, nhấn mạnh khía cạnh thứ hai của ơn gọi tu sĩ, không kém quan trọng hơn khía cạnh thứ nhất, tức là chiều kích cộng đoàn và quy luật sống của nó (theo nghĩa « regula » : hướng đi, con đường). Trước khi thần học về ba lời khấn được xác định rõ với thánh Tôma, thì đặc điểm của đời sống tu trì trong Giáo Hội thông thường đã là hình thức sống, tức là cách thế đặc biệt mà việc bước theo Chúa Kitô (sequela Christi) đã được sống bởi cáng đấng sáng lập và các đồ đệ của họ, theo những đặc sủng riêng biệt của mình và những xác quyết riêng cho mỗi một gia đình của họ : hoán cải cuộc sống (conversio morum), lời khấn gắn bó trọn đời trong một đan viện, đức khó nghèo, rao giảng Lời Chúa, phục vụ Giáo Hội, tình yêu thương người nghèo… Không chỉ bậc sống, nhưng còn cách sống theo một quy luật và trong tình huynh đệ. Vatican II đã nói đến điều đó khi nhấn mạnh đến bốn đặc tính chung của các dòng tu này, mang lại cho các thành viên của chúng một sự ổn định vững chắc trong lối sống, một học thuyết tu đức, một sự hiệp thông huynh đệ nhằm phục vụ một sứ mệnh, và một sự tự do được củng cố bằng sự vâng phục (LG 43). Những đặc tính này mô tả cách nào đó những yếu tố chung cho những con đường khác nhau hay những hình thức sống mà các tu sĩ chọn theo bằng việc tuyên khấn, trên nền tảng của một sự dấn thân độc thân.

Như thế, chẳng hạn, Bản Định Thức (Formula Instituti) mà thánh Inhaxiô Lôyôla trình cho Đức giáo hoàng vào năm 1540 xin phê chuẩn, được diễn tả : « Trong Hội Dòng mà chúng tôi muốn tôn vinh thánh danh Chúa Giêsu này, bất kỳ ai muốn tham dự vào cuộc chiến đấu của Thiên Chúa dưới ngọn cờ thập giá và hiến mình chỉ phục vụ Chúa chúng ta và Giáo Hội, Hiền Thê của Ngài, bằng sự vâng phục Đức giáo hoàng, vị đại diện của Chúa Kitô trên trần gian, (thì) sau khi đã tuyên khấn các lời khấn trọng thể đức khiết tịnh suốt đời, khó nghèo và vâng phục, sẽ phải nhớ rằng nơi Hội dòng, người ấy thực hiện chủ yếu với mục đích trước hết chăm lo bảo vệ và truyền bá đức tin và sự tiến bộ của các linh hồn trong đời sống và học thuyết kitô giáo, bằng những lời rao giảng công khai… » Như thế, ơn gọi tu sĩ là một ơn gọi đến một lối sống đặc biệt được sống trong tình huynh đệ, tức là một đặc sủng được chia sẻ và thể hiện trong Giáo Hội. Từ đó, ơn gọi, về mặt chủ thể, được sống như là một lời kêu gọi thánh hiến, sẽ bao gồm trong tiếng gọi này những xác định xã hội về tính hữu hình giáo hội của nó, mà lời khấn giữ công khai đời sống Phúc âm diễn tả. Như thế, người ta sẽ nói rằng ơn gọi tu sĩ là một ký ức Tin Mừng trong Giáo Hội, một truyền thống của đặc sủng không chỉ khiết tịnh, nhưng còn là lối sống bước theo Chúa Kitô (sequela Christi) trong cái hôm nay của Giáo Hội. Ở đó, bậc sống tu sĩ biểu lộ Vương quốc hiện tại và loan báo sự phuc sinh. Và ở đó, ơn gọi tìm thấy những đặc tính cụ thể của việc bước vào trong một gia đình, của tình huynh đệ và việc phục vụ Giáo Hội và thế giới. Các tài liệu nền tảng diễn tả điều đó, dưới hình thức Thư từ (Augustin), Quy Lật (Bênêđictô) hay Định thức (Inhaxiô)…mà không được lẫn lộn với các Hiến Pháp, các tài liệu này là chữ nghĩa trong đó người nam hay nữ cảm thấy được kêu gọi có thể nhìn nhận và chứng thực liệu dòng tu như thế là nơi mà mình có thể thực hiện ao ước bước theo Chúa Kitô của mình hay không. Hai lối tiếp cận này về ơn gọi tu sĩ là bổ túc cho nhau. Chúng cũng gợi lên hai con đường khả thể của một ơn gọi. Một con đường đi từ sự phân định tiếng gọi nội tâm đến sự phân định hình thức sống theo đó nó có thể thành hình. Con đường kia đi từ sự cuốn hút vào một lối sống được sống bởi một dòng tu đến sự chứng thực một tiếng gọi nội tâm cá nhân đến từ Chúa Kitô. Con đường này và con đường kia, con đường này trong con đường kia.
Lm. Claude FLIPO, sj, giáo sư ở Centre Sèvre, Paris. —————————–
(1) Tông thư « Chứng tá Tin Mừng » bàn về việc canh tân đời sống tu sĩ theo giáo huấn của công đồng Vatican II (chú thích của người dịch).
(2) Tông thư « Hồng ân cứu độ » bàn về sự thánh hiến của các tu sĩ dưới ánh sáng của mầu nhiệm cứu độ (chú thích của người dịch).
(3) Do Bộ các Dòng Tu và các Hội Đời Sống Tông đồ ban hành (chú thích của người dịch).
(4) Tông huấn « Đời sống thánh hiến » hậu Thượng Hội Đồng Giám mục (chú thích của người dịch). Nguồn : Claude FLIPO, « Aspects théologiques de la vocation religieuse », trong Théologie de la vocation, Colloque de l’Institut Catholique de Paris (février 2001), Revue Jeunes et Vocations, 3e trimestre, số 102, tr. 67-70.
Lm. Phêrô Võ Xuân Tiến chuyển ngữ. - dunglac.org

Cuộc Sống Tu Trì Là Kinh Nghiệm Tình Yêu


Đời tu đặt nền tảng trên kinh nghiệm của những người cảm thấy mình được THIÊN CHÚA Toàn Năng Hằng Hữu thu hút. Đời tu là lời đáp trả Tiếng Gọi Tình Yêu của Đức Chúa GIÊSU KITÔ, Đấng kêu mời con người lắng nghe và tận hiến toàn thân cho Ngài với trọn lòng trung tín. Chúng ta trở thành tu sĩ bởi vì THIÊN CHÚA làm chủ vận mệnh cuộc đời chúng ta một cách huyền nhiệm đến độ chúng ta không thể nào làm khác hơn là mau mắn đáp lại bằng chính cuộc sống của chúng ta. Tiếng Chúa gọi vào cuộc sống tu trì có sức mạnh chuyển hướng một cách tuyệt đối cuộc hành trình nơi dương thế của chúng ta. Cuộc sống tu dòng không gì khác hơn là cố gắng mỗi ngày thuộc trọn về Đức Chúa GIÊSU KITÔ.
Việc đáp lại Tiếng Chúa kêu gọi đòi hỏi cuộc tìm kiếm không ngừng và được thực hiện nơi cộng đoàn, nghĩa là cùng với các Anh Chị Em tu sĩ khác trong Hội Dòng. Đây là một cố gắng để tỏ hiện cách rõ ràng ra bên ngoài - bằng chính hồng ân cuộc sống tu trì - về nét đẹp lôi cuốn của THIÊN CHÚA đối với toàn thể nhân loại. Vì lý do này mà chúng ta phải luôn luôn không ngừng tìm kiếm và chất vấn chính mình. Đúng thế! Không có chỗ đứng cho việc tự mãn tự nguyện và ham thích tiện nghi, trưởng giả trong cuộc sống của một tu sĩ chân chính.
Điểm ghi nhận đáng chú ý là trong xã hội hiện nay có rất nhiều người tìm kiếm những gì là thần linh là thánh thiêng và ý nghĩa chung cục của cuộc sống. Cuộc đời này có giá trị gì??? Vì thế, việc mục vụ tông đồ và chứng tá đời sống tu trì - cá nhân hoặc cộng đoàn - cũng như các Tu Viện phải trở thành nơi chốn thuận tiện và lý tưởng cho con người ngày nay "săn tìm" THIÊN CHÚA. Và chúng ta không nên quên rằng, khi một tu sĩ kết hợp mật thiết với Đức Chúa GIÊSU KITÔ thì tu sĩ ấy cũng dễ dàng sống tình huynh đệ trong Cộng Đoàn và thực thi tình bác ái đối với mọi người sống chung quanh.
Mỗi hành trình - mỗi cuộc hành hương - của mỗi người trên trần gian đều bắt đầu với Tiếng Gọi. Tiếng Gọi không gì khác hơn là Ơn Gọi tìm kiếm mục đích chung cục của mỗi hành động con người: THIÊN CHÚA kêu gọi chúng ta vào hưởng phúc lành sung mãn của Ngài. Đây cũng là nền tảng cuộc sống tu trì. Vì thế, các tu sĩ không được phép coi đời tu như là chuyện đương nhiên cũng không được phép nghĩ rằng ơn gọi tu dòng là chuyện tình cờ!
Trên đây là chứng từ của Đức Tổng Giám Mục Joseph William Tobin, dòng Chúa Cứu Thế người Mỹ, Tổng Thư Ký Bộ Các Dòng Tu.
Tiếp lời Đức Tổng Giám Mục Tobin là nữ tu Enrica Rosanna, dòng Con Đức Bà Phù Hộ, phó Tổng Thư Ký Bộ Các Dòng Tu.
Chúng tôi - những người tận hiến - có một cuộc sống bình thường. Ngoài thời giờ dành riêng cho đời sống thiêng liêng, chúng tôi cũng có vui có buồn có sức khoẻ có đau yếu bệnh tật. Chúng tôi cũng thực thi một nghề nghiệp, nhưng đặc biệt chúng tôi cố gắng phục vụ anh chị em đồng loại trong công tác giáo dục, bác ái, chăm sóc sức khoẻ thể xác và tâm hồn. Chúng tôi tìm cách sống cuộc đời bình thường với trọn vẹn ý nghĩa đích thực của nó.
Nhưng làm thế nào để có thể hiểu được rằng THIÊN CHÚA kêu mời chúng ta sống tình bạn mật thiết thâm sâu với Ngài? Thưa là chính lúc chúng ta hiểu được lý do tại sao chúng ta có mặt trên cõi đời này. Mỗi một cuộc đời đòi hỏi phải có một mục đích, một chung cục, một điểm tới và một ơn gọi để thực hiện. Ơn gọi và cuộc sống là hai mặt phải-trái của cùng một chiếc mề-đay là chính con người. Nếu con người không biết khám phá ra và tiếp nhận chính ơn gọi của mình thì không thể thi hành ơn gọi đó và đạt đến mức độ sung mãn cũng như hạnh phúc đích thật.
Xin đặc biệt gởi đến các bạn trẻ đang tìm kiếm ơn gọi lời kêu mời hãy nhìn vào tận nội tâm và làm một cuộc hành trình dài bên trong con tim. Rồi các bạn ngừng lại và tìm đọc điều mà THIÊN CHÚA viết riêng cho bạn xuyên qua các ước mơ, các mong đợi và các khát vọng thâm sâu nhất. Các bạn trẻ cũng nên nhìn các mẫu gương thánh thiện của những chứng nhân anh dũng đã sống một cuộc đời yêu mến THIÊN CHÚA cách trọn vẹn.
... Vào lúc ấy, Đức Chúa GIÊSU cất tiếng nói: "Lạy CHA là Chúa Tể trời đất, Con xin ngợi khen CHA, vì CHA đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng, lạy CHA, vì đó là điều đẹp ý CHA .. CHA Thầy đã giao phó mọi sự cho Thầy. Và không ai biết rõ Người Con, trừ CHÚA CHA; cũng như không ai biết rõ CHÚA CHA, trừ Người Con và kẻ mà Người Con muốn mặc khải cho .. Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng Thầy, Thầy sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Anh em hãy mang lấy ách của Thầy, và hãy học với Thầy, vì Thầy có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách Thầy êm ái, và gánh Thầy nhẹ nhàng" (Matthêu 11,25-30).
("L'OSSERVATORE ROMANO", Giornale Quotidiano Politico Religioso, Anno CLI, n.23, Sabato 29 Gennaio 2011, trang 8)
Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt
Radiovaticana.org

Tự Do, Hướng Thượng Và Ước Muốn


Đây là hành trình ơn thiên triệu đặc thù của hai người Ý đã đính hôn, rồi họ trở thánh linh mục và nữ tu. Câu chuyện do chính vị hôn phu – hiện nay là Linh Mục Dòng Đức Mẹ Vô Nhiễm – kể lại.
Phúc Âm theo thánh Matthêu (19,16-22) thuật lời Đức Chúa GIÊSU kêu gọi người thanh niên giàu có: "Hãy đến và theo Tôi". Nhưng thanh niên buồn rầu bỏ đi vì chàng có quá nhiều của cải. Chúa Giêsu cũng từng gọi tôi như thế, nhưng tôi giả điếc làm ngơ. Thế gian có quá nhiều quyến rũ đối với tôi. Ý tưởng tận hiến cho Chúa đối với tôi thật xa vời. Tôi chỉ nghĩ đến việc giật cho được mảnh bằng tiến sĩ kinh tế và thương mại, rồi sau đó tôi hành nghề tự do.
Phải thành thật thú nhận rằng tôi là tín hữu Công Giáo hữu danh vô thực. Tôi không cầu nguyện, không lãnh các bí tích cũng không tuân giữ các giới răn của Chúa. Phải nhờ đến một cái tát nẩy lửa của mẹ tôi mới khiến tôi trở lại nhà thờ tham dự Thánh Lễ. Nghĩa là mẹ tôi thành công trong việc thuyết phục tôi tham dự Thánh Lễ Chúa Nhật. Kể từ đó, không một Chúa Nhật nào trôi qua mà tôi không tham dự Thánh Lễ. Đây là bước đầu đưa tôi trở về với việc sống đạo đàng hoàng.
Lý do thứ hai lay động cuộc sống khi tôi tình cờ đọc một tác phẩm tôn giáo luận về Ngày Phán Xét Chung. Phản ứng sơ khởi là nỗi sợ hãi. Từ từ tôi tỉnh ngộ và chuyển từ sợ hãi sang ý thức: Phải luôn hành xử đúng đắn, không vì sợ luận phạt, nhưng để chứng tỏ lòng tôi yêu mến THIÊN CHÚA!
Từ đó tôi tiến bước trong hành trình Đức Tin và dấn thân trong vài công tác tông đồ ở giáo xứ. Nhưng tuyệt nhiên tôi không hề nghĩ đến chuyện đi tu hoặc làm Linh Mục. Trong đầu tôi lúc ấy chỉ có ý tưởng tìm một thiếu nữ đoan trang và đi đến hôn nhân đúng theo phép đạo Công Giáo!
Thiên Chúa Quan Phòng cho tôi gặp một bạn gái đức hạnh. Chúng tôi đính hôn trong vòng hai năm. Chúng tôi tiếp tục sống Đức Tin dưới sự dẫn dắt của cha linh hướng, một vị linh mục thánh thiện. Hôn nhân, gia đình, con cái đông đúc là lý tưởng chính yếu của chúng tôi trong thời gian này. Chúng tôi chỉ chờ đợi ngày mãn đại học, tìm việc làm rồi cử hành hôn lễ.
Thế rồi Thiên Chúa bắt đầu tỏ lộ cho chúng tôi những dấu chỉ của một ơn gọi đặc thù, một lời mời gọi vào một sứ mệnh cao cả hơn. Nhưng chúng tôi chưa nhận ra, bởi con tim chúng tôi còn bị thắt chặt bởi những ràng buộc, những ước muốn hoàn toàn trần tục. Chỉ có một điều lạ là không hiểu sao – chỉ sau này khi đã vào dòng rồi chúng tôi mới hiểu – đó là việc chúng tôi từ từ tách rời nhau, tách rời mọi sự và mọi việc. Cùng với thời gian, không còn gì có thể lôi cuốn sự ham thích của chúng tôi nữa. Bằng cách này, Thiên Chúa chuẩn bị cho chúng tôi làm một bước nhảy vọt tiến vào đời sống tu trì.
Quả thật, với sự trợ giúp của cha linh hướng, sau 2 năm đính hôn, chúng tôi không còn coi hôn nhân và gia đình là mục đích của cuộc đời và sứ mệnh của chúng tôi nữa. Chúng tôi bắt đầu nhận ra ơn gọi tu dòng nơi mỗi người. Chúng tôi nghiêm chỉnh nghĩ đến việc gỡ bỏ mối dây đính ước. Quyết định này không thể không làm cho cả hai con tim chúng tôi rướm máu. Tuy nhiên, chúng tôi ý thức thâm sâu rằng niềm hạnh phúc đích thực đến từ việc chúng tôi luôn sẵn sàng thi hành Thánh Ý Thiên Chúa.
Chúng tôi can đảm chia tay nhau. Mỗi người đi vào một dòng tu. Nàng trở thành nữ tu, còn tôi trở thành tu sĩ và sau đó được thụ phong linh mục. Thật là ân huệ trọng đại! Bây giờ, khi viết lại chứng từ này tôi muốn mời gọi các bạn trẻ đừng để mình bị quyến rũ và vây bọc bởi trăm ngàn thứ ràng buộc cùng các ước muốn trần tục. Nhưng hãy sống trong thanh thản và tự do, tự do trong sự thật và tinh thần. Như thế, con tim người trẻ sẽ dễ dàng hướng thượng và có những ước muốn trọng đại. Mong thay!
..."Hỡi những người con trung hiếu, hãy lắng nghe lời ta. Hãy nên như cây hồng lớn lên bên dòng nước, như cây hương tỏa mùi thơm ngào ngạt, như cây huệ trổ bông, hãy đồng thanh cất tiếng hát lên một bài ca. Hãy ngợi khen Thiên Chúa vì mọi việc Người làm. Hãy tán dương danh Chúa, ngợi khen chúc tụng Người, hãy đàn ca mà dâng lời cảm tạ. Mọi việc Thiên Chúa làm đều hoàn toàn tốt đẹp, mỗi mệnh lệnh Người ban sẽ được thi hành đúng thời, đúng lúc" (Hc 39,13-16).
TRẦM THIÊN THU
(Theo Immacolata Mia, n. 9+10, tháng 11-12/2004, tr. 14-15)
Nguồn TGP Hà Nội

Con Đường Tình Yêu


Tác giả Joseph Bolin
Đối với người Công giáo, có 2 cách chọn đường đi trong cuộc sống. Người ta có thể bắt đầu bằng suy nghĩ về mục đích sống, và suy nghĩ về điều gì sẽ hữu ích nhất trong việc đạt mục đích đó, hoặc người ta có thể tự vấn về điều Thiên Chúa muốn mình làm trong cuộc sống.
Các phương pháp này khác nhau và bổ túc lẫn nhau, nhưng chỉ khi nào sách về ơn gọi áp dụng 2 phương pháp khác nhau cơ bản này. Cuốn sách này nhằm kiểm tra 2 phương pháp cơ bản này đối với vấn đề ơn gọi, những thuận lợi và những nguy hiểm tiềm ẩn của mỗi phương pháp, và đề nghị cách nhìn đơn giản về những ơn gọi tìm cách duy trì những lợi ích của mỗi phương pháp. Không như đa số những sách khác về ơn gọi, sách này không là một luận thuyết thần học hướng dẫn những người trí thức, cũng không là sách hướng dẫn ơn gọi, mà gồm những lời khuyên chi tiết về cách chọn ơn gọi. Hơn nữa, sách này tìm cách đưa ra viễn cảnh sâu xa mà đơn giản và khả dĩ tiếp cận về ơn gọi, cho cả những người tìm kiếm ơn gọi và các vị linh hướng về ơn gọi để có nền tảng vững chắc, có thể hình thành phán đoán tốt về những tình huống đặc biệt mà họ đang xử lý.
Bất kỳ phương pháp nào chúng ta áp dụng cho ơn gọi thì sự tập trung chú ý vẫn phải là tình yêu. Mỗi ơn gọi phải được tập trung xoay quanh tình yêu, vì chính nhờ tình yêu mà chúng ta được kết hiệp với Thiên Chúa, Đấng là Tình yêu, và mọi người tìm thấy sự viên mãn nơi Ngài. Do đó, đời sống chúng ta sẽ hoàn thiện hơn, tới mức mà tình yêu của chúng ta vĩ đại hơn. Yêu cầu cơ bản để sống trong tình yêu là chúng ta tuân giữ các giới răn. Thánh Gioan nói: "Yêu mến Thiên Chúa là tuân giữ các điều răn của Ngài" (1 Ga 5:3). Thêm vào các giới răn, chúng ta được trao những lời khuyên hữu ích để phát triển trong tình yêu. Nhưng chính tình yêu phải luôn luôn duy trì tiêu chuẩn mà cách chọn lựa của chúng ta được đo lường. Yếu tố quyết định trong ơn gọi là sự hiến dâng để theo đuổi sự phát triển không ngừng trong tình yêu. Cường độ của tính kiên định của sự quyết tâm theo đuổi sự thánh thiện bằng cách dùng phương tiện chúng ta sử dụng, đó là điều rất quan trọng hơn cả phương tiện chúng ta chọn. Chẳng hạn, nên tìm kiếm sự thánh thiện trong hôn nhân toàn tâm toàn ý hơn là tìm kiếm sự thánh thiện trong đời sống tu trì toàn tâm toàn ý. Nhưng khi hiến dâng, chúng ta sẽ phát triển trong tình yêu chắc chắn hơn và mau chóng hơn nếu chúng ta sống theo cách thích hợp với việc phát triển trong tình yêu, chẳng hạn bằng cách sống theo lời khuyên Phúc âm (evangelical counsels).
Khi chọn con đường riêng để sống sẽ dẫn đến tình yêu, phương pháp của thánh Thomas là suy nghĩ về sự tốt lành khách thể và tính khả dĩ của cách sống. Chẳng hạn, ngài nói rằng không cần phải suy nghĩ lâu dài trước khi quyết định đi tu, vì "như thế chắc chắn tốt hơn" và "vì những người đi tu không dựa vào sức mạnh riêng mình"1 nhưng tin cậy Thiên Chúa ban sức mạnh cần thiết để mình sống ơn gọi đó. Nhưng người ta phải tìm kiếm ý muốn đi tu từ Thiên Chúa, thánh Thomas nói rằng nếu ước muốn đó chân thật, vì ý hướng tốt, đó là từ Thiên Chúa. Không thành vấn đề nếu Thiên Chúa có là nguồn trực tiếp của động thái đó hoặc tìm cách lôi kéo ai đó đi tu hay không. Thậm chí nếu chính ma quỷ là nguồn trực tiếp của ý muốn này thì chính ý muốn đó vẫn tốt, và cuối cùng vẫn từ Thiên Chúa.
Thánh Teresa Avila đã sống và hành động theo các quy luật này của thánh Thomas. Bà thấy điều gì tốt thì nhất quyết làm. "Mặc dù tôi không tiếp tiếp tục có ý muốn làm nữ tu, tôi vẫn thấy đó là cách tốt nhất và an toàn nhất, và cứ dần dần, tôi quyết định bắt mình ấp ủ điều đó"2 Bà tiếp tục nói về cách mà Thiên Chúa thưởng cho "sự mãnh liệt" như vậy (x. Mt 11:12) với chính điều đó. "Khi tôi đã quen, Thiên Chúa liền cho tôi hiểu và cách Ngài ủng hộ những người ép buộc chính mình trong việc phụng sự Ngài"3
Tương phản với thánh Thomas, thánh Inhaxiô Loyola mới đầu coi đó là "tìm kiếm Ý Chúa". Thánh Inhaxiô đưa ra "3 cách" để người ta có thể chọn cách sống hợp với Ý Chúa: (1) Khi người ta có kinh nghiệm trực tiếp về điều chắc chắn là Ý Chúa, và điều đó hướng dẫn người ta về cách sống; (2) Khi mà nhờ nhiều kinh nghiệm và sự tìm kiếm sự tác động của Chúa Thánh Thần, người ta hiểu rằng Chúa Thánh Thần đang mời gọi hoặc lôi kéo người ta vào cách sống nào đó, hoặc ý muốn đó phát xuất từ Chúa Thánh Thần; (3) Khi bắt đầu bằng một thái độ tách biệt đối với các tạo vật, và nếu có thể, bằng sự yêu thích những gì phù hợp hơn với Ý Chúa, người ta cẩn trọng chọn cách sống đó là cách phụng sự Chúa và cứu rỗi các linh hồn.
Mỗi phương pháp này đều có thuận lợi riêng và nguy cơ riêng. Phương pháp của thánh Thomas có thuận lợi về khách quan hơn, do đó ít có khả năng lừa dối, nhưng cũng có nguy cơ là quá trừu tượng, và do đó quá xa rời thực tế và sống kết hiệp với Thiên Chúa. Phương pháp của thánh Inhaxiô có thuận lợi là riêng tư hơn, nhưng cũng có nguy cơ là ơn gọi sẽ được coi là gánh nặng bắt buộc (obligatory burden) bị Thiên Chúa áp đặt, không là lời mời gọi tự do sống tình yêu lớn lao hơn. Thánh Anphong Ligouri và Von Balthasar có vẻ có sai lầm này, vì quá nhấn mạnh vào đặc tính riêng của ơn gọi.
Nhưng dù 2 phương pháp này có những điểm khác biệt cơ bản, cuối cùng chúng vẫn tương thích. Một mặt nó khách quan tốt hơn để theo Ý Chúa hơn theo ý mình. Một mặt cho thấy khi chúng ta tìm kiếm Ý Chúa, chúng ta sẽ nhận thấy có những cái để xác định Ý Chúa không chỉ đặc biệt mà còn tổng quát và khách quan. Như vậy thánh Anphong, theo phương pháp tổng quát của thánh Inhaxiô, không coi các dấu hiệu của Ý Chúa là điều phải có để người ta nuôi dưỡng ý hướng tu trì; người ta chỉ cần 2 dấu hiệu như thánh Thomas yêu cầu: Ý hướng vừa tốt lành vừa kiên định, và không trở ngại.
Nếu chúng ta áp dụng trường hợp người ta không trở ngại, và dịnh hướng tích cực – phải thích hợp cách sống – rồi chúng ta có những điều kiện chính mà Giáo hội đòi hỏi về ơn gọi. Về yếu tố đầu tiên, ý muốn kiên định và muốn có cách sống đặc biệt (giả sử cách chọn đó hợp pháp và tốt lành), là cần thiết cho ơn gọi, mà thánh Phanxicô Salê nói rằng ước muốn kiên định như thế chính là ơn gọi. Tuy nhiên, đối với sự kiên định của ơn gọi, chúng ta vẫn cần điều kiện thứ ba, nghĩa là sự chấp thuận của Giáo hội. Thiên Chúa không kêu gọi chúng ta tới sự thánh thiện đơn giản là những cá nhân, mà là các thành viên của Giáo hội, Nhiệm Thể Chúa Kitô. Vì thế, nhiệm vụ của Giáo hội là trắc nghiệm và phê chuẩn ơn gọi, nhất là ơn gọi tu trì và linh mục.
Các phương pháp của thánh Thomas và của thánh Inhaxiô không chỉ tương thích về lý thuyết, mà còn liên kết tới một mức nào đó theo phác thảo về ơn gọi của chân phước GH Gioan Phaolô II. Theo mô tả của ngài, ơn gọi luôn bắt đầu với Chúa Kitô, Đấng đến với mỗi cá nhân trong tình yêu, hướng dẫn người đó tìm ra cách sống thích hợp với tình yêu đó. Khi cầu nguyện đối thoại với Chúa Kitô, ngài đã kiểm tra những trường hợp riêng của ngài để tìm ra con đường sống mà ngài có thể biến nó thành tặng phẩm của mình trong tình yêu.
Phương pháp kết hợp này có thể là cách tốt nhất để suy nghĩ về ơn gọi. Mục đích cuối cùng của sự suy nghĩ cân nhắc nên đáp lại tình yêu vĩnh hằng của Thiên Chúa dành cho chúng ta. Vì thế, ưu tiên việc "tìm kiếm" ơn gọi, hoặc "quyết định" cách sống, chúng ta phải cố gắng ưu tiên thanh luyện tâm hồn mình, để yêu thật và tìm kiếm Chúa trên hết mọi sự, và đưa tình yêu vào việc chọn cách sống. Chỉ khi đó chúng ta mới sử dụng tặng phẩm Thiên Chúa đã trao ban cho chúng ta – khối óc và con tim – để quyết định về cách sống.
Khi tìm kiếm ơn gọi, yếu tố này hay yếu tố khác – khối óc hoặc con tim – có thể giữ vai trò chủ đạo. Mới đầu chúng ta có thể quyết định bằng ý chí: sau khi suy nghĩ và cân nhắc các yếu tố thích hợp, chúng ta có thể biết cái gì là phương tiện tốt nhất để thực hiện tình yêu và phát triển trong tình yêu, và hãy chọn phương tiện đó. Hoặc mới đầu chúng ta có thể quyết định bằng con tim: trong vài cách có thể cái nào cũng tốt để thực hiện tình yêu và phát triển nó trong tình yêu, chúng ta có thể chọn cách mà chúng ta có khuynh hướng nhiều – không theo xu hướng thoáng qua, nhưng là khuynh hướng bền vững, nghĩa là theo tình yêu đích thực.
Khi suy nghĩ và chọn cách sống, chúng ta nên luôn nghĩ rằng con đường chúng ta chọn không là ý muốn riêng mình, mà là thiết kế của Thiên Chúa. Mỗi người trong chúng ta ở một vị trí riêng trong thế giới, cho nên chúng ta có thể chọn con đường riêng để đến với Chúa. Và như vậy, sau khi đã chọn con đường để sống, chúng ta nên tạ ơn Chúa về tình yêu của Ngài, cơ hội và lời mời gọi yêu thương mà Ngài dành cho chúng ta.
Ý muốn kiên định nên theo cách chọn lựa của chúng ta. Ý muốn kiên định này sẽ làm cho chúng ta có thể tận hiến để thực hiện việc yêu mến Chúa và tha nhân theo cách chúng ta đã chọn, và kiên trì trong mọi khó khăn. Ý muốn kiên định này là muốn phụng sự Thiên Chúa theo cách sống mà thường tạo ra sự bình an tâm hồn. Sự bình an tâm hồn liên quan cách chọn riêng là dấu hiệu kiên định của ơn gọi, và có thể được gọi là dấu hiệu của ơn gọi.
Phương pháp trực tiếp này là cách tiếp cận ơn gọi. Giữa cách của thánh Thomas và của thánh Inhaxiô, thực sự có nhiều cách khác mà chúng ta có thể dùng để chọn cách sống. Vấn đề là thanh tẩy tâm hồn chúng ta, chân thành sống vì tình yêu lớn lao hơn, luôn tuân phục các giáo huấn của Giáo hội và tuân theo sự cẩn trọng Kitô giáo, đồng thời cởi mở theo sự tác động của Chúa Thánh Thần, dù Ngài đưa dẫn chúng ta đi đâu. Việc tìm kiếm và theo đuổi ơn gọi không nên là máy móc hoặc xử lý lo âu, mà là sống và vui mừng với Thiên Chúa, vì "Thiên Chúa còn cao cả hơn lòng chúng ta, và Người biết hết mọi sự" (1 Ga 3:20).
TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ PathsOfLove.com)
1 St. Thomas Aquinas, Summa Theologiae II-II 189:10
2 St. Teresa of Avila, Autobiography, Ch. 3
3 Ibid., Ch. 4
(Nguồn TGP Hà Nội)

Thứ Tư, 7 tháng 3, 2012

TẠI SAO CHÚA LẠI CHỌN CON ?





Mỗi người có một cảm nhận riêng về ơn gọi của mình, ơn gọi này chúng ta nhận được từ Thiên Chúa, Đấng là nguồn mạch của mọi sự, cho mọi người. Ở đây tôi chỉ bàn đến ơn gọi dấn thân theo Chúa cách đặc biệt trong đời tu (đời sống dâng hiến) mà thôi. Dẫu biết rõ con người bạn chẳng có tài gì đặc biệt, chẳng có khiếu gì trong lãnh vực hùng biện, cũng như các lãnh vực khác liên quan đến sứ vụ sau này thế mà Chúa đã mời gọi bạn theo Ngài. Ngài cũng không cưỡng ép cũng như Ngài chẳng bắt buộc bạn phải dấn thân nhưng Ngài đang chờ đợi nơi bạn sự đáp trả. Bạn có thể nói "không". Vì có quá nhiều lí do để biện hộ cho câu trả lời đó: Có thể là thời gian chưa chín muồi, hoặc có thể là chưa thích hợp, và thậm chí có thể là Chúa đã chọn nhầm người để thi hành sứ vụ đặc biệt này. Và có lẽ bạn đang hỏi Chúa: tại sao Chúa lại chọn con?

Tại sao không? Chẳng lẽ bạn không có một tài năng nào được Chúa bạn tặng hay sao? Hay là bạn có quá nhiều tài năng nên nếu như theo Chúa thì tài năng của mình bị giới hạn? Hoặc là chẳng lẽ bạn biết được bạn có thể dâng hiến những gì sao? Bạn có bao giờ nghĩ rằng, nếu Chúa đã khước từ bạn thì liệu có thể Ngài còn mời gọi bạn dấn thân theo Ngài không? Thiên Chúa có lí do của Ngài khi mời gọi bạn. Có thể chương trình của Chúa với bạn đến nay chưa thực sự rõ ràng nhưng tôi chắc chắn với bạn một điều là chính Ngài đã khơi lên trong lòng bạn con đường này, và bạn cũng đã bước đi trên con đường đó. Các tông đồ xưa theo Chúa vì lí do gì? Chắc hẳn bạn cũng biết?! Các ngài cũng rất tầm thường, rất con người trong những giai đoạn đầu theo Chúa. Nhưng dầu sao đi nữa thì các ngài chỉ biết rằng là, mình được "gọi" và với tâm tình đơn sơ, lòng nhiệt thành các ngài đã đáp lại lời mời gọi ấy. Các ngài đã đi trọn con đường của mình theo thánh ý Chúa, tuy là con đường đó có rất nhiều chông gai, nhiều trở ngại nhiều lúc tưởng chừng như các ngài đã bị những khó khăn đánh gục nhưng với ơn Chúa các ngài đã vượt qua tất cả để về đích. Cũng vậy bạn đã cố gắng thế nào? Bạn đã sử dụng ơn Chúa ban ra sao? Bạn có dùng nó để phục vụ cho tha nhân hay là bạn đã dùng nó với ý riêng mình? Có lẽ bạn đã dùng ơn Chúa chưa theo như ý Chúa muốn khi Ngài ban những ơn đó cho bạn. Có lẽ Chúa đang cần nơi bạn một sự phó thác hoàn toàn trong sự tin tưởng tuyệt đối vào Ngài. Lòng tín thác đó nó như một cơn gió thoảng làm cho lòng bạn nhẹ nhàng hơn. Và cơn gió đó bạn biết nó có, nhưng bạn không thể nhìn thấy nó, mà bạn chỉ có thể cảm nhận, và bạn sẽ cảm nhận được nếu như bạn ngưng cuộc sống ồn ào của bạn lại một vài giây, và bạn cố gắng tập trung chú ý một chút, thì bạn sẽ biết được ý Chúa muốn bạn lúc này phải làm gì.

Giả như bạn khước từ lời mời gọi của Chúa thì sao? Theo tôi thì cũng chẳng vấn đề gì. Có thể biết đâu trước đó là chỉ là một cuộc trắc nghiệm. Biết đâu Ngài chỉ muốn bạn sống thử đời sống dấn thân xem bạn có thể chấp nhận được thử thách của Người không? Và cũng có thể Chúa biết điều đó là cần thiết cho cuộc sống của bạn hay nói cách khác thì đó là điều tốt cho cuộc sống sau này của bạn. Giả như Ngài muốn thử xem bạn có hiểu và sử dụng các ơn Chúa Thánh Thần cách hiệu quả không nhất là ơn sức mạnh thì một quyết định như thế phần nào nó cũng nói lên được nơi bạn là đã phải có can đảm, xác tín, ơn thánh và đặc biệt là cầu nguyện rồi. Nếu đã là như vậy thì không có gì để nói, và bạn cũng không có gì phải sợ là mình sẽ phải hối tiếc.

Có lẽ sự dấn thân này không có gì để đảm bảo cho cuộc sống của bạn?! Vậy, có phải bạn đang cần có sự đảm bảo nào đó cho sự dấn thân của mình? Nếu trong một thế giới hoàn hảo thì việc bạn đòi hỏi một đảm bảo nào đó cho một sự dấn thân nào đó của bạn thì đó là điều chính đáng, không có gì để nói. Nhưng đây thực tế thì không phải thế, nó chỉ là một thế giới đầy dẫy những bất trắc. Nên việc đòi có một đảm bảo cho sự dấn thân của mình thì thật là không may vì nó không phải là một thế giới toàn hảo. Và có lẽ là vì vậy mà Chúa muốn bạn dấn thân cho những gì là tốt đẹp nhất theo như sự cảm nhận của bạn khi đã có sự cầu nguyện để tham khảo ý của Ngài một cách kỹ lưỡng rồi. Nếu như bạn thực sự đã làm như vậy một cách nghiêm túc thì bạn không có gì phải lo lắng. Tuy vậy nghĩ kỹ lại thì bạn có thực sự muốn nói "không" với Đấng đã gọi bạn và vì bạn mà Đấng ấy đã hiến đi mạng sống của mình không? Người vẫn đợi chờ và hy vọng bạn sẽ nghe theo lời mời gọi của Chúa Thánh Thần trong tâm hồn bạn. Người vẫn hy vọng tình yêu của Ngài dành cho bạn sẽ thúc bách bạn để bạn biết chia sẻ tình yêu đó cho mọi người chung quanh và nhất là Ngài hy vọng bạn không phải hối tiếc về sự trả lời của bạn.

Nhưng dù thế nào đi nữa thì lời mời gọi ấy cũng vẫn xoáy vào tâm hồn bạn. Có thể là bạn có nhiều lí do để biện minh cho lựa chọn của mình nhưng bạn quá biết là mình đang làm gì và sử dụng ơn Chúa ban cho mình thế nào. Nhưng có lẽ bạn không biết được bạn đã cố gắng hay không. Điều này thì bạn không thể biết được, tôi dám chắc điều đó. Tất cả đều dựa trên niềm tin của ta vào Chúa. Ngài sẽ giúp bạn, sẽ ban cho bạn đủ sức mạnh để bạn đương đầu với nghịch cảnh. Hãy tin rằng Ngài sẽ ban cho bạn những ơn thánh cần thiết vào những thời điểm cần thiết vì Ngài đã nói "ơn Ta đủ cho con" và Ngài không bao giờ thử thách quá sức chịu đựng của bạn.

LÀM THẾ NÀO ĐỂ TÔI BIẾT TÔI CÓ ƠN GỌI





Thiên Chúa đang mời gọi tôi?


Quá trình của sự nhận thức được ơn gọi từ Thiên Chúa có thể là một điều làm cho nhiều người sợ hãi và bối rối. Thậm chí có khi có những người không biết rằng họ cần phải nhận ra ơn gọi của mình là gì. Vì chọn lựa con đường cho cuộc đời của chúng ta là điều quan trọng nhất. ….dù sao đi nữa, nếu bạn đang suy nghĩ chọn lựa con đường cho đời mình có nghĩa là các bạn đang ở vào một ngõ quanh và kết quả của đời bạn sẽ đi về đâu tùy thuộc vào quyết định trong giai đoạn này, chính vì thế bạn phải nên thận trọng trong quá trình nhận thức về ơn gọi! Những câu hỏi và trả lời sau sẽ giúp đỡ bạn để bắt đầu quá trình nhận thức ơn gọi của bạn. Muốn tìm hiểu sâu xa hơn nữa, xin tiếp xúc với các cha các thầy các sơ nơi địa phương bạn đang sống, hay các cha linh hướng của bạn, hay bạn cũng có thể liên lạc với chúng tôi, xin đừng ngại ngùng gì cả!

Sự nhận thức ơn gọi là gì?


Nhận thức có nghĩa là làm điều gì đó cho rõ ràng minh bạch. Khi bạn nhận ra được ơn gọi tu trì trong bạn, cũng chính là lúc bạn tìm ra ý Thiên Chúa cho đời bạn.

Ơn gọi là gì?


Một ơn gọi là một sự tự do lựa chọn một con đường để đi trong cuộc sống. Nó ngụ ý những những mối quan hệ và trách nhiệm bản thân nào đó. Một ơn gọi là một sự hiến dâng bản thân mình lâu dài trước Thiên Chúa. Có ba ơn gọi chính: kết hôn, thiên chức linh mục, và cuộc sống hiến dâng.

Còn về cuộc sống độc thân thì sao?


Ðôi khi người sẽ nói rằng chọn cuộc sống độc thân là một ơn gọi. Nhưng theo định nghĩa của Giáo Hội về ơn gọi, cuộc sống độc thân chỉ có thể là một ơn gọi nếu như mục đích của nó là hiến dâng cho Thiên Chúa, như chọn một cuộc sống trong dòng tu hay thề nguyện sống độc thân vĩnh viễn trước một giám mục. Ðiều này không có nghĩa sống độc thân là xấu xa hoặc coi thường cuộc sống. Nhưng chúng ta là những con người thể xác và linh hồn, và linh hồn của chúng ta không bao giờ được hoàn hảo cho đến khi chúng ta hiến dâng mình cho môt ai đó, có thể là Thiên Chúa hoặc một người nào đó. Không có tình yêu lớn hơn điều này, là hy sinh mạng sống của mình cho một người khác. Do đó một người mong muốn sống đôc thân được khích lệ cam kết cuộc đời mình với một mối quan hệ thương yêu với Chúa trong một cách nào đó được chấp nhận bởi Giáo Hội. Cho đến khi điều này được hoàn hảo, người sống độc thân có thể sống một cuộc sống rất tràn đầy và mang lại nhiều lợi ích cho Giáo Hội.

Vì sao bạn nên biết ơn gọi của bạn?


Một ơn gọi là một lời mời gọi, là lời mời gọi từ Thiên Chúa để bước vào một mối quan hệ yêu thương. Từ muôn thuở, Thiên Chúa đã yêu thương bạn và mong muốn bạn được ở với Ngài mãi mãi trên Thiên Ðàng. Ơn gọi của bạn là con đường Thiên Chúa mong muốn cho bạn để đến với Ngài. Ơn gọi này, bởi vì nó là quan trọng cho bạn, nó sẽ mang lại cho bạn hạnh phúc lớn nhất và sẽ là phương tiện chắc chắn nhất dẫn bạn đến sự thánh thiện. Ơn gọi của bạn sẽ không mang lại cho bạn cuộc sống ấm êm nhất, nó cũng sẽ không giúp bạn thoát khỏi tất cả những đau khổ, và nó sẽ không cung cấp cho bạn an ninh tuyệt đối trong cuộc sống này. Nhưng nếu bạn đón nhận ơn gọi với tình yêu và lòng nhiệt thành, bạn được bảo đảm sự hiện diện thương yêu của Thiên Chúa và bạn sẽ có cơ hội để phát triển tất cả những tài năng tiềm ẩn nơi bạn, và những tài năng đó sẽ đưọc phát huy và đạt tới sự sung mãn. Bước theo ơn gọi của bạn là hưởng ứng một cách yêu mến đối với các quà tặng mà Thiên Chúa đã ban tặng cho bạn.

Khi nói “ý Chúa” có nghĩa là gì? Ðiều Thiên Chúa muốn là gì?


Thiên Chúa là tình yêu. Người yêu tất cả chúng ta với tình yêu bất diệt. Vì vậy khi nói về ý Thiên Chúa, ý muốn này không tách rời ra khỏi tình yêu của Người. Ðiều mà Thiên Chúa muốn là tất cả chúng ta đều được cứu rỗi để chúng ta được hiện diện với Ngài mãi mãi trong sự kết hợp hoàn hảo, niềm hạnh phúc trọn vẹn, một tình yêu hoàn hảo. Nhưng ở đây cũng nói về ước muốn của Thiên Chúa trong cuộc sống của chúng ta ngay ở đây trên trái đất này. Mọi quyết định mà chúng ta làm có thể hướng chúng ta đi hai hướng khác nhau, hoặc là mang chúng ta tới gần với Thiên Chúa hoặc là làm cho chúng ta xa Ngài. Bởi vậy, trong mỗi quyết định, chúng ta hãy tự hỏi: Thiên Chúa muốn ta làm gì?

Nhưng làm thế nào để tôi có thể nhận ra ơn gọi của tôi một cách rõ ràng?


Trước hết, bạn phải ý thức rằng ý muốn của Thiên Chúa thường biểu lộ ra cho chúng ta qua cuộc sống cầu nguyện bình thường hàng ngày, qua con người, qua những hoàn cảnh thông thường trong đời của chúng ta. Vì vậy nếu bạn đợi chờ một dấu hiệu lớn lao hoặc phép lạ kỳ diệu, bạn sẽ có thể phải đợi chờ một thời gian rất lâu dài, và cũng có thể sẽ chẳng bao giờ có! Lý do chính là vì Thiên Chúa mong muốn chúng ta tự do chọn lựa cho chúng ta. Nếu Ngài tỏ cho chúng ta biết rõ ràng từng ly từng tí, không một chút nghi ngờ về những gì chúng ta phải làm, thì chúng ta ít được tự do hơn trong việc đáp lại ơn gọi của Ngài bằng tình yêu của mình. Chúng ta sẽ cảm thấy bị ép buộc để tuân theo Ngài, để rồi cuối cùng, hầu hết chúng ta sẽ không trả lời “không” với Thiên Chúa. Thiên Chúa thích tạo cho chúng ta sự nhiệt thành hơn và gọi chúng ta rất nhẹ nhàng như vậy khi chúng ta chọn lựa, đó là sự lựa chọn xuất phát từ tình yêu chúng ta dành cho Ngài, chứ không phải từ sợ hãi hoặc từ bổn phận hoặc từ sự cam chịu nhường đường của chúng ta cho Thiên Chúa. Khi một người bắt đầu quan tâm đến ơn gọi của mình, Giáo Hội Công Giáo gợi ý cho người ấy hãy thăm dò cuộc sống tu trì trước, thậm chí ngay cả khi người ấy chưa cảm thấy thích tu hành cho lắm. Lý do dễ hiểu là ơn gọi trong cuộc sống tu hành có thể được thử qua trước khi làm một điều cam kết nào đó. Trong phần lớn các cộng thể, các bạn sẽ có từ 5 tới 10 năm trước khi làm một sự cam kết cuối cùng. Mặt khác, không bao giờ có những vụ hôn nhân thử. Chắc chắn rồi, một người có thể hẹn hò và có thể xem coi kết hôn với người kia thì cuộc sống sẽ như thế nào bằng cách nhìn vào cách cư xử của cha mẹ và bạn bè của họ. Nhưng thực ra bạn không thể biết sự hôn nhân là gì, sống với cuộc sống vợ chồng sẽ ra sao cho đến khi bạn kết hôn với người đó.

Nếu bạn nhìn vào trong cuộc sống tu hành và có thể thành thật mà nói rằng Thiên Chúa hình như không dẫn dắt bạn tới đó, lúc đó bạn hãy nhìn tới cuộc sống lập gia đình. Lúc đó bạn phải đợi cho đến khi Thiên Chúa gửi đến cho bạn một người chồng hay người vợ Công giáo tốt lành, người mà bạn có thể chia sẻ với họ về mọi khía cạnh cuộc sống của bạn. Hôn nhân là điều rất quan trọng, bạn đừng nên lấy bất kỳ ai đến với bạn một cách qua loa mà không tốn thời gian tìm hiểu. Bạn phải ý thức rằng người mà bạn chọn lựa để dâng hiến cuộc đời mình có ảnh hưởng sâu sắc đến tương lai của bạn, thậm chí ảnh hưởng đến cả ơn cứu độ vĩnh cửu của bạn. Lựa chọn một người để sống cuộc đời hôn nhân là điều có thể rất khó vì những sự thu hút và vấn đề tình cảm có thể làm phức tạp vấn đề. Cầu nguyện và sự giúp đỡ từ các cha linh hướng tinh thần là điều cần thiết để có thể làm một quyết định đúng đắn. Nếu Thiên Chúa không gửi cho bạn một người chồng, hay người vợ Công giáo tốt lành, đừng chấp nhận đại một kẻ vô danh tiểu tốt nào đó. Ðiều này có thể là dấu chỉ là bạn được gọi tới một hình thức hiến dâng trong cuộc sống tu trì nào đó.

Những điều này có ích, nhưng có sự hướng dẫn thực hành nào đó để tôi có thể theo để nhận thức rõ ràng ơn gọi của mình không?


Có ba bước để làm nếu bạn muốn đi đến bất kỳ quyết định nào một cách tốt đẹp, và điều này có thể cũng được áp dụng vào ơn gọi tu trì. Tuy nhiên, hãy nhớ rằng, quá trình nhận thức rõ ràng ơn gọi của mỗi người là độc nhất và Chúa Thánh Thần có thể làm việc qua những cách thật khó hiểu.

1. Cân nhắc một cách trưởng thành. Bắt đầu với sự suy niệm riêng của mình: Những gì làm cho tôi hạnh phúc? Tôi muốn gì từ cuộc sống? Ước vọng của tôi là gì? Tôi cảm thấy được hướng dẫn đi đâu, đến đâu? Tiếp đến, gom góp những tin tức, chi tiết về các nhà dòng. Lấy những cuốn hướng dẫn về ơn gọi và liên lạc một số dòng hay triều khác nhau như: dòng chiêm niệm, dòng hoạt động, các tu viện, v.v. Sau đó chọn hai hay ba nơi để đến thăm. Dành một số thời gian suy nghĩ về những gì bạn đã học từ những tin tức bạn gom nhặt được và xét lại xem những điều đó làm cho bạn cảm thấy như thế nào. Rồi hỏi ý kiến một người nào đó mà bạn có thể tin tưởng, như các cha, các sơ hoặc một người bạn hiểu biết và cởi mở.

2. Quyết định sự lựa chọn tốt nhất. Bạn nên đợi cho đến khi bạn tự do thoát khỏi tất cả những thành kiến, tất cả những mối ràng buộc, và tất cả những cảm động nồng nhiệt nhất thời – bao lâu còn bị ảnh hưởng bởi những điều này bạn không thể làm một làm quyết định rõ ràng. Cẩn thận kiểm tra lại những điều thuận và những điều nghịch, cả về khía cạnh thực tế và khía cạnh thiêng liêng. Hãy cầu xin Chúa Thánh Thần chỉ dẫn. Và rồi làm một quyết định thật cương quyết, can đảm. Quá trình này phải không nên bị kéo dài quá lâu … tính do dự là một trong những dụng cụ lớn nhất của ma quỷ dùng. Thay vì tìm hiểu cho rõ ràng, thường là khi tốn nhiều thời gian quá chỉ làm cho vấn đề càng trở nên nhầm lẫn hơn. Thường thường quá trình nhận thức rõ ràng không nên dài hơn một đến hai năm.

3. Hành động theo quyết định của bạn. Đừng nên chần chừ chậm trễ quá vì trì hoãn có thể dẫn đến quyết định của bạn dần dần suy yếu đi. Tuy nhiên chúng ta đừng nên hấp tấp nhào vào quyết định ào ào những điều quan trọng này mà không thận trọng và lo xa. Nhất định phải chuẩn bị và xem xét tất cả những cản trở và vấn đề khó khăn. Qua sự cầu nguyện vào Chúa Thánh Thần tất cả những khó khăn có thể vượt qua được. Và khi thời gian và những hoàn cảnh thuận tiện đến gần, hãy mạnh dạn tiến đến một bước cuối cùng và chấp nhận hoàn toàn hậu quả của quyết định của mình.

Khi đã nhận thức được rõ ơn gọi về cuộc sống tu hành, tôi phải tìm gì?


Ðiều đầu tiên để xem xét là tinh thần và mục đích của dòng mà bạn đến thăm. Hãy tự hỏi mình – tinh thần và những mục đích của dòng này có thu hút tôi hay không? Tôi có thể thấy chính tôi sống tinh thần này cho đến cuối cuộc đời của tôi hay không? Tinh thần của dòng này sẽ dẫn dắt tôi về đến sự liên kết với Thiên Chúa hay không? Ðiều này quan trọng nhất bởi vì tinh thần sống của cộng thể đó sẽ ảnh hưởng đến mọi khía cạnh của cuộc sống của bạn, như vậy một dòng tốt thích hợp với bản thân bạn là điều tối quan trọng.

Ðiều thứ hai là, một dấu chỉ lớn với nhiều người là họ có thực sự cảm thấy thoải mái khi sống với các thành viên của cộng thể đó hay không?. Ðiều này là lý do tại sao một lần viếng thăm từ 3 tới 4 ngày có thể trở nên rất quý giá. Nhiều người diễn tả cảm giác của việc tìm thấy ơn gọi của họ như cảm giác như họ đã được “về nhà của mình.”

Một số người cũng xem xét đến công việc của cộng thể mà họ đến thăm. Có những bạn nữ chắc chắn rằng họ muốn gia nhập một tu viện. Lại có những người khác thì quan tâm về y học hoặc giáo dục. Trong khi công việc của dòng là điều chắc chắn để chúng ta nên xem xét, tuy nhiên nó phải không là yếu tố xác định trong quyết định của bạn để xin vào dòng. Chẳng hạn, một bạn nữ muốn gia nhập một dòng nào đó có công việc là giảng dạy, thì câu hỏi được đặt ra ở đây là: “Không biết cô ta nên vào The School Sisters of Christ the King hay dòng The Apostles of the Sacred Heart? Cả hai dòng đều là những cộng thể giảng dạy! Người bạn gái khác lại biết chắc rằng cô ta muốn vào một tu viện. Nhưng cô ấy phải quyết định như thế nào giữa Dòng Passionists hoặc Dòng Các Sơ Clares Khó Nghèo – giữa hai dòng này có một khác nhau lớn! Ðây là lý do vì sao tinh thần của cộng thể sẽ là yếu tố điều đầu tiên trong việc tìm hiểu ơn gọi của bạn.

Cuối cùng, phải nói rằng mỗi ơn gọi có hai phần: bề trong và bề ngoài. Phần bên trong là những gì chúng ta có thể nói đến được: mong muốn phụng sự cho Thiên Chúa một cách trọn vẹn hơn và tiến triển trong sự tự tin rằng Thiên Chúa gọi mình. Nhưng bề ngoài cũng phải có. Ðó là hiểu và chấp nhận quyền hành của bề trên: giám mục hoặc cha bề trên về ơn gọi của bạn. Những điều kiện bề ngoài như tuổi tác, sức khỏe, phương hướng tu trì v.v có thể giới hạn bạn tham gia vào một cộng thể nào đó hoặc có thể là dấu hiệu chứng tỏ bạn không có một ơn gọi đến với dòng đó hoặc là bạn hoàn toàn không có ơn kêu gọi. Ðiều này phải được quyết định giữa cá nhân và những người có quyền hành như cha bề trên. Họp nhau lại xem xét họ sẽ thấy rõ nếu bạn có một ơn gọi thật sự hay không.

Hy vọng rằng những điều trên sẽ giúp đỡ bạn giải đáp những thắc mắc trong quá trình nhận thức rõ ơn kêu gọi của bạn.

Chủ Nhật, 4 tháng 3, 2012

Công Cụ Của Quỷ


Một người đàn ông nọ có một giấc mơ rất thú vị. Ông mơ thấy mình đến dự một buổi tiệc triển lãm của quỷ Satan ở địa ngục. Ông rất thích thú khi được nhìn ngắm những công cụ mà lũ quỷ đã dùng để dụ dỗ con người đi vào con đường tội lỗi. Những công cụ này gồm Nóng giận, Hiểm độc, Thù hận, Ghen tỵ, Lừa dối, Nhục dục,...

Đến giữa phòng, ông trong thấy một công cụ trong mòn nhẵn có vẻ vô hại được đặt trên một tấm vải nhung đỏ thầm và được trưng bày trong lồng kính đặc biệt. Ông quay sang hỏi con quỷ đang đứng gần xem đó là vật gì.

- Công cụ đó là sự Nhụt chí! - Con quỷ trả lời.

- Sao nó lại được trưng bày đặc biệt như vậy?

- Người đàn ông hỏi.

- Tôi thấy nó vô hại và tầm thường so với những công cụ khác kia mà.

Con quỷ nở một nụ cười tinh quái rồi trả lời:

"Công cụ đó chính là sự thành công của nhà quỷ chúng tôi. Trông nó thật vô hại nhưng nếu biết cách sử dụng, nó có thể khiến một ông thánh thành kẻ tầm thường!".

Sự nhụt chí có thể khiến con người từ bỏ mọi nỗ lực đạt được mục tiêu của đời mình. Hãy nghỉ đến câu chuyện này mỗi khi bạn cảm thấy sự nhụt chí. Hãy ngẫm xem liệu có phải lũ quỷ đang dùng công cụ này để đạt được mục tiêu của chúng hay không. Và bạn có thể xem người sử dụng công cụ này để làm giảm nhiệt huyết của người khác cũng giống như loài quỷ dữ vậy.

Sưu tầm

Đừng Xét Đoán





Vừa nhận được điện thoại, nam bác sĩ vội vã tới bệnh viện. Ông khoác vội trang phục phẫu thuật và tiến ngay tới phòng mổ. Lúc đó, người cha của cậu bé sắp sửa phẫu thuật đang ngồi đợi tại cửa phòng. Vừa nhìn thấy bóng bác sĩ, người cha nói ngay : “Tại sao giờ này ông mới đến?

Ông không hay biết con trai tôi rất nguy kịch sao? Thực lòng ông có trách nhiệm nghề nghiệp không vậy?”

Bác sĩ điềm tĩnh trả lời : “Thật xin lỗi, lúc này không phải ca tôi trực nên tôi không có mặt tại bệnh viện. Thế nhưng vừa nhận được điện báo tôi đến ngay đây… Và lúc này tôi muốn tịnh tâm một chút để chuẩn bị phẫu thuật”.

Người cha giận dữ : “Tịnh tâm à?! Giả như con của ông đang nằm trong phòng cấp cứu thì ông có tịnh tâm được không? Nếu như con trai ông sắp chết, ông sẽ làm gì?”

Vị bác sĩ lại mỉm cười trả lời : “Tôi sẽ nói điều mà ông Gióp đã nói trong Kinh Thánh: ‘Thân trần truồng sinh từ bụi đất, tôi sẽ trở về bụi đất thân trần truồng. Chúa đã sinh ra, Chúa lại lấy đi, xin chúc tụng Chúa’. Những bác sĩ không có khả năng giữ lại mạng sống. Ông hãy đi và cầu nguyện cho con trai ông. Chúng ta sẽ nỗ lực hết mình và cậy trông vào ân sủng Thiên Chúa”.

“Khuyên lơn người khác khi mà bản thân mình chẳng dính dáng gì xem ra quá dễ dàng”. Người cha phàn nàn.
Cửa phòng phẫu thuật đóng lại. Vị bác sĩ miệt mài vài giờ liền trong phòng mổ. Và ông rời khỏi phòng phẫu thuật trong niềm hạnh phúc: “Cảm tạ Chúa. Con trai ông đã được cứu. Nếu muốn biết thêm chi tiết, hãy hỏi cô ý tá vừa giúp tôi”. Không chờ câu trả lời của người cha, vị bác sĩ tiến thẳng và rời khỏi bệnh viện.

Ngay khi nhìn thấy dáng dấp cô y tá xuất hiện, người cha nói ngay :

“Loại người gì mà lại cao ngạo đến như thế kia chứ! Thậm chí ông ta không thèm dành vài giây trả lời cho tôi biết hiện trạng con trai tôi”.

Cô y tá cúi xuống, tuôn trào nước mắt, trong xúc động, cô chậm rãi trả lời: “Con trai duy nhất của bác ấy mới qua đời hôm qua do một tai nạn. Hôm nay bác ấy đang lo tang sự cho cậu. Thế nhưng vừa nhận được điện báo bác ấy tới ngay để cứu con trai ông. Bây giờ thì bác ấy trở về tiếp tục lo hậu sự cho đứa con yêu quý của mình”.

Đừng kết án ai. Vì bạn không biết cuộc sống của họ thế nào cũng như điều gì đang diễn ra trong tâm hồn họ và những gì họ đang phải nỗ lực vượt qua.

Một Ngày Của Thầy Dòng



Trong một tu viện nọ, một hôm, Cha bề trên hỏi một tu sỹ già rằng:

_Hôm nay, thầy đã làm những việc gì rồi?

_Thưa Cha, hôm nay con đã canh chừng 2 con chim ưng và 1 con rắn, trói chặt 2 con nai, điều khiển 2 con diều hâu, bảo vệ 2 con cá sấu, làm chủ 1 con gấu, và chăm sóc 1 bệnh nhân!

_Thầy nói gì vậy, trong tu viện của chúng ta làm gì có những con vật đó và những công việc như thế?

_Thưa cha, 2 con chim ưng là đôi mắt của con, con phải luôn canh chừng cho nó khỏi những hình ảnh ghê tởm lọt vào; con rắn chính là cái lưỡi của con, con phải luôn canh chừng cho nó khỏi tiết ra những lời xấu xa, độc địa; 2 con nai là đôi chân của con, con phải trói chặt nó lại để nó khỏi đi lung tung vào những nơi không nên đến; 2 con diều hâu là đôi tay con, con phải điều khiển nó để khỏi làm những việc tàn ác; 2 con cá sấu là đôi tai của con, con phải bảo vệ cho chúng khỏi những câu chuyện phiếm hay tục tĩu kẻo làm lu mờ tâm trí con; 1 con gấu là trái tim của con với đầy những "cái tôi" thật lớn, những kiêu ngạo và ham muốn luôn lồng lộn chực thoát ra; cuối cùng, 1 bệnh nhân là chính thân xác con, luôn yếu đuối, bệnh hoạn, phải chăm sóc để thêm sức chống trả cám dỗ.
(st)

Thánh Nhân




Nhiều năm trước đây, khi xã hội còn chưa văn minh, những hình phạt dành cho các tội nhân hết sức man rợ. Một người kia bị bắt quả tang ăn trộm cừu, và thế là bị khắc hai chữ "ST" (sheep stealer: ăn trộm cừu)

Người ấy về sau thay đổi, hiến thân hăng say phục vụ Thiên Chúa và mọi người, khi về già, ông được những người hàng xóm kính trọng. Khi nhìn thấy hai chữ "ST" trên trán ông cụ đáng kính ấy, những đứa trẻ trong xóm đã hỏi cha mẹ chúng và được cho biết hai chữ ấy nghĩa là Thánh Nhân (ST=Saint). Trong mắt mọi người sau ngần ấy năm trời, hai chữ "ST" chỉ có thể mang một ý nghĩa tốt đẹp như thế với một người đã cải thiện mà thôi.

-> Một vị Thánh là một tội nhân không ngừng cố gắng. 

-> Một vị Thánh là một tội nhân đã phó mình cho Thiên Chúa, và sau đó, Thiên Chúa chấp nhận và điều khiển cuộc đời của họ.