Thứ Hai, 26 tháng 9, 2011

Tìm hiểu Ngày Thế Giới về Đời Sống Thánh Hiến và Tu Trì



In
Nhân Ngày Thế Giới về Đời Sống Thánh Hiến và Tu Trì
Để giúp Quý vị độc giả VietCatholic hiểu thêm về Ngày Thế Giới về Đời Sống Thánh Hiến và Tu Trì, xin được phép trích dịch những câu hỏi và trả lời, được liệt kê trên trang web của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ như sau:
A. Phần Câu Hỏi và Trả Lời
(H): Ngày Thế Giới về Đời Sống Thánh Hiến và Tu Trì là ngày gì?
(T): Thưa, đó là ngày được tổ chức hằng năm để đề cao những nam/nữ tu sĩ, những người đã cống hiến một cách đặc biệt vào Giáo Hội qua đời sống khổ tu và tu Dòng, cũng như những người giáo dân tham dự vào các hội tu đời.
(H): Ngày này xuất phát từ đâu?
(T): Giáo Hội tại Rôma vẫn thường cử hành ngày lễ về đời sống thánh hiến và tu trì vào ngày 2 tháng 2, nhân ngày Lễ Đức Mẹ Dâng Chúa Giêsu Vào Đền Thánh từ rất nhiều năm nay. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô Đệ Nhị năm nay sẽ cử hành ngày lễ này tại Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô. Những nam/nữ tu dòng sẽ mang nến tiến vào Vương Cung Thánh Đường, chịu trách nhiệm về các bài đọc, và dâng Bánh và Rượu. Vào năm 1997, Đức Thánh Cha đã nâng ngày lễ này lên cấp bậc hoàn vũ, và đã tuyên bố chọn ngày 2 tháng 2 được dành như là Ngày Thế Giới về Đời Sống Thánh Hiến và Tu Trì.
(H): Tại Hoa Kỳ, ngày này sẽ rơi vào ngày nào?
(T): Việc cử hành đúng ra là vào ngày 2 tháng 2, nếu như ngày 2 tháng 2 rơi vào ngày Thứ Bảy hay Chủ Nhật, còn nếu không, thì rơi vào buổi cuối tuần để cho phép nhiều người có thể tham dự thánh lễ tại các giáo xứ của họ.
Riêng tại Hoa Kỳ, Ngày Thế Giới về Đời Sống Thánh Hiến và Tu Trì được tổ chức vào ngày Chủ Nhật, ngày 2 tháng 8 năm 2005.
(H): Đâu là những mục đích của Ngày Thế Giới về Đời Sống Thánh Hiến và Tu Trì?
(T): Trong thông điệp dành cho Ngày Thế Giới về Đời Sống Thánh Hiến và Tu Trì đầu tiên, Đức Thánh Cha nói rằng đây là ngày cho chúng ta có dịp để cảm tạ Thiên Chúa về món quà của những nam/nữ tu sĩ đã chọn đời sống thánh hiến và tu dòng, để cổ võ về ý nghĩa của cuộc sống, để mời gọi các nam/nữ tu sĩ đã chọn đời sống thánh hiến và tu trì, để cử hành những gì mà Thiên Chúa đã hoàn thành nơi họ, và để gây ra sự chú ý về sứ vụ của họ trong Giáo Hội và trên toàn thế giới
(H): Đã có những nổ lực nào khác để đề cao đời sống tận hiến và tu trì không?
(T): Một số kế hoạch chiến lược được phát thảo ra nhằm làm gia tăng thêm nhiều ơn gọi để trở thành linh mục và đời sống tu dòng. Cụ thể là những nỗ lực như sau:
- “Gọi mời bằng Tên” (Called by Name) - đây là một chương trình ở cấp giáo xứ nhằm khuyến khích các giáo dân đề nghị cho vị cha sở tên của những người bạn trẻ nào mà họ nghĩ sẽ là những ứng viên tốt và có triển vọng để chọn đời sống tận hiến, tu trì.
- “Chiến Dịch Andrew” hay “Chiến Dịch Miryam và Giuse” - trước tiên đó là một cuộc qui tụ của Đức Giám Mục địa phận với các linh mục và những người thanh niên nào muốn trở thành linh mục. Buổi qui tụ gồm có một bữa ăn, lời cầu nguyện và chia sẽ về những câu chuyện riêng về ơn gọi của các Đức Giám Mục và các linh mục; kế đến, cũng là một chương trình tương tự nhưng dành cho các thiếu nữ, hay các nam thanh niên cùng với những Mẹ Bề Trên, các Cha Bề Trên, Cha Giám Tỉnh của các dòng tu và các thành viên của các dòng- “7 đến 11” - đây là chương trình kéo dài 1 ngày nhằm cho phép các nam/nữ thích chọn đời sống tận hiến, tu dòng có thể trải qua một ngày với các thầy, các sơ, hay các linh mục dòng trong đời sống cầu nguyện, sứ vụ và cộng đoàn. Mọi chi tiết, xin liên hệ Văn Phòng Đặc Trách về Ơn Gọi và Đào Tạo Linh Mục của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ tại số điện thoại: (202) 541-3000.
- Tham Dự Trại Mùa Hè về Ơn Gọi - là những chương trình dành cho giới trẻ hoặc cho các trẻ nam hoặc trẻ nữ cùng dự trại mùa hè và tĩnh tâm để các bạn trẻ tìm hiểu về ơn gọi và gặp gỡ các linh mục, các nữ tu, và các thầy dòng.
- Tạo ra các trang web và những nguồn thông tin trên mạng, theo từng giáo phận và các dòng tu.
- Tạo ra các tài liệu, như các băng hình và các tài liệu về đa văn hóa, được thực hiện bởi Phòng Trào Liên Hiệp Quốc Gia về Ơn Gọi trong Giáo Hội. Mọi chi tiết, xin gọi về số: 1-800-671-6228.
(H): Nguyên do gì đã tạo ra sự sút giảm về ơn gọi?
(T): Để tìm ra một câu trả lời chắc chắn và chính đáng, có lẽ là rất khó. Tuy nhiên, có 9 lý do sau:
(1) Hầu hết những người coi sóc những công việc ngày nay trong Giáo Hội lại chính là những người nam/nữ giáo dân và họ không phải là linh mục hay các nam/nữ tu sĩ dòng; (2) đã có những thay đổi trầm trọng, đáng kể xảy ra trong xã hội và trong Giáo Hội Công Giáo trong vòng 30 năm qua, và những thay đổi đó đã góp phần làm giảm ơn gọi, chẳng hạn như, việc gia tăng về chủ nghĩa tiêu thụ và việc làm giảm các giá trị về gia đình; (3) mọi người giờ đây không còn tôn trọng và tin tưởng các đấng bản quyền, như là họ đã từng, như trước kia; (4) hệ thống gia đình bị làm cho suy yếu đi đến mức không thể nào có thể tưởng tượng nổi; (5) thành công đã trở nên một từ mang nghĩa hẹp, bao gồm đến việc có được quyền hành và sự giàu sang; (6) rất ít người mời gọi những người bạn trẻ nam/nữ hãy xem xét đến những ơn gọi về đời sống thánh hiến và tu trì; (7) trong nội bộ Giáo Hội, vai trò của các linh mục và các nam/nữ tu sĩ dòng trong mối quan hệ với cộng đoàn đức tin cũng đã có sự thay đổi, và đã có một vài sự mơ hồ về nhân dạng của các linh mục, các nam/nữ tu sĩ dòng; (8) cảm nhận về giá trị của đời sống linh mục và tận hiến, tu trì đã bị giảm thiểu; và (9) mọi người rất sợ phải thực hiện và giữ trọn những cam kết lâu dài.
(H): Đâu là những phẩm chất mà Giáo Hội cần trong việc đánh giá các ứng viên cho đời sống tận hiến, và tu trì?
(T): Theo Ban Đặc Trách về Ơn Kêu Gọi Tận Hiến, Tu Trì Quốc Gia, thì ứng viên phải hội đủ những tiêu chuẩn sau: (1) Là thanh viên trong Giáo Hội Công Giáo; (2) có sức khỏe tốt; (3) có đủ khả năng thông minh; (4) có những mối quan hệ lành mạnh với những người bạn tốt; (4) có óc khôi hài; (5) có khả năng lựa chọn đời sống độc thân; (5) có đức tin và thành thật; (6) có mối quan hệ với Thiên Chúa; (7) có tinh thần trách nhiệm đối với những người khác; (8) có khả năng phục vụ mọi người thuộc nhiều nền văn hóa, chủng tộc khác nhau; (9) có khả năng lãnh đạo; (10) có lối làm việc cộng tác; và (11) có khả năng sống một cuộc sống giản đơn, có khả năng chia sẽ về một đời sống hèn mọn, khó nghèo, vì những mục đích tốt đẹp chung.
(H): Đâu là sự khác biệt giữa một linh mục dòng và một linh mục triều thuộc giáo phận?
(T): Một linh mục dòng thì thuộc về một cộng đoàn tu dòng nào đó, chẳng hạn như các cha dòng Đa Minh các cha Dòng Chúa Cứu Thế, hay các cha Dòng Phanxicô, vân vân, những người đã sống và đã tạo ra được uy tín về những vị sáng lập ra các dòng của các ngài, và thường thực hiện những công tác mục vụ như: giáo dục, hay chăm sóc sức khỏe, chẳng hạn. Các ngài thường sống trong một cộng đoàn và giữ lời khân về khó nghèo, trong sạch và vâng lời. Các linh mục triều, hay các linh mục địa phận, hay cũng còn được gọi là các linh mục trong đời thường, được thụ phong cho một giáo phận nào đó, trong một khu vực địa lý nào đó, và thường phục vụ tại các giáo xứ, dẫu rằng, các ngài cũng còn hổ trợ cho các trường học, các bệnh viện và các nhà tù. Mặc dầu các ngài không khấn 3 lời hứa về: khó nghèo, trong sạch và vâng lời, nhưng các ngài phải hứa là sống đời sống độc thân, biết tôn trọng và phục tùng Đức Giám Mục địa phương và sống một cuộc sống giản đơn.
(H): Các linh mục có khấn về lời hứa trong sạch, tinh khiết không?
(T): Các linh mục dòng phải có lời khấn hứa về sự trong sạch, và các linh mục triều có lời khấn hứa về sự độc thân.
(H): Tại sao lại có rất nhiều dòng tu khác nhau?
(T): Mỗi dòng tu đều có một vị sáng lập riêng, và vị ấy là người đã nhiệt tình, hứng khởi đáp trả về một tình huống đặc biệt cụ thể nào đó trong suốt chiều dài lịch sử của Giáo Hội. Những dòng có các sứ vụ và uy tín để đáp trả lại với những bân tâm của thời đương đại thì có khuynh hướng sống còn, và trái lại, những dòng khác giờ đây cũng đã không còn tồn tại nữa trong Giáo Hội. Những dòng mới thậm chí được thành lập ra trong thời đại ngày nay, để qua đó những người nam/nữ cố gắng sống đúng với Phúc Âm theo đúng với hoàn cảnh hiện tại thời nay.
(H): Đâu là sự khác biệt giữa một linh mục dòng và một thầy dòng?
(T): Một linh mục dòng là người đã được thụ phong chức linh mục, là người chủ tế của các bí tích như Bí Tích Rửa Tội, Bí Tích Mình Thánh Chúa, Bí Tích Giải Tội, Bí Tích Hôn Phối, và Bí Tích Xức Dầu Bệnh Nhân. Còn đời sống của một thầy dòng thì cũng giống như đời sống đời sống của một nữ tu sĩ dòng: cũng sống trong cộng đoàn của dòng tu; giữ 3 lời khấn hứa về sự khó nghèo, trong sạch và vâng lời; và tham tham dự vào đời sống mục vụ hay tu trì.
(H): Ba lời khấn hứa về sự khó nghèo, sự vâng lời và sự trong sạch, có ý nghĩa gì trong thời đại ngày nay?
(T): Ba lời khấn này cũng còn được gọi là những lời khuyên của Phúc Âm để mô tả về cách thức sống đúng theo Phúc Âm.
Khó Nghèo có nghĩa là người nam/nữ tu sĩ dòng đều chia sẽ hết cho nhau những gì mình có, chứ không phải là có sự sở hữu về cá nhân. Trong nảo trạng về cuộc sống vật chất thời này, thì giá trị của nền văn hóa hưởng thụ và tiêu dùng được đánh giá và đo bằng việc sở hữu quyền lực, hay việc giàu có về của cải vật chất, sự khó nghèo làm chứng cho sự phụ thuộc của người nam/nữ tu sĩ ấy vào chính Thiên Chúa, như là nguồn của mọi hồng ân và nguồn của sự đoàn kết mọi người nên một với nhau, đặc biệt là với những người nghèo khổ. Khi mà có rất nhiều người thờ ơ và bỏ mặc những ai đang phải sống bên lề xã hội, thì một dòng với lời khấn hứa về sự khó nghèo có thể liên kết với những người nghèo, làm việc cùng với họ, và nói về những nhu cầu mà họ cần, vì khó nghèo có thể hiểu được khó nghèo.
Trong Sạch có nghĩa là xem đời sống độc thân như là một nìềm vui, như là một tình yêu với Thiên Chúa hơn là việc phải có một mối quan hệ vợ-chồng. Tình dục, trong xã hội của chúng ta, được dùng với rất nhiều mục đích khác nhau, ngay cả với việc buôn bán các sản phẩm và giải trí, và những thông điệp về tình dục gợi cảm đã trở nên quá hiển nhiên, qua lộ liễu khiến con người phải tích cực tham gia vào, khiến dẫn đến sự chung chạ tình dục bừa bãi. Trong Sạch nhắc nhớ chúng ta về ý nghĩa sâu lắng của dục tính. Một chứng nhân đích thực, chân chính của sự trong sạch biết cách biểu lộ một cách đặc biệt, độc nhất vô nhị, về cách thức yêu và phục vụ những người khác, và mời gọi những người khác biết rằng còn có nhiều điều thú vị hơn nữa trong cuộc sống để có thể đáp ứng, hơn là phải gặp mặt đối mặt, hay là phải nhìn qua con mắt; và rằng với mối quan hệ với Thiên Chúa, là Người duy nhất, tuyệt đỉnh
Vâng Lời nhằm ám chỉ đến những điều tốt đẹp chung hơn là những mong muốn cá nhân. Định nghĩa thời nay của sự tự do chính là có thể làm bất cứ điều gì mà ai đó muốn miễn là nó không can dự đến những quyền lợi của những người khác, hay nói cách khác, tự do khỏi trách nhiệm. Sự vâng lời, chính là cách thể hiện về hình thức hoàn hảo nhất của sự tự do, chính là việc cam kết với nhau, với Thiên Chúa hay loài người, hay là vì một mục tiêu cao cả nào đó. Sự vâng lời có thể cho phép ai đó thật sự hướng đời sống của mình để phục vụ cho Giáo Hội.
(H): Học viện thế tục / tu hội đời là gì?
(T): Thưa, đó là một tổ chức dành cho những người giáo dân độc thân, những người sống và thực hiện những lời khuyên của Phúc Âm và tuân theo hiến chương của học viện. Các thành viên chính là những người sống trong thời đại và môi trường của thế tục, cố gắng trở nên thánh thiện và thánh hóa qua những thông điệp của phúc âm để trở nên “men bột” và thực hiện công lý xã hội theo đúng với một linh hướng cụ thể nào đó.
(H): Làm thế nào mà những lời khuyên của Phúc Âm có thể được hiện thực tại những học viện thế tục / tu hội đời?
(T): Sự khó nghèo kêu gọi các thành viên thánh hiến có một mối quan hệ tích cực với những vật chất và dùng nó để ám chỉ đến việc thực thi công lý xã hội, đặc biệt là với những người bất hạnh, kém may mắn. Sự khó nghèo cũng còn ám chỉ đến những gì là cần thiết trong đời sống hằng ngày. Các thành viên tự lo liệu lấy mọi chi phí trong đời sống thường ngày của họ cũng như họ tự lo cho tuổi hưu của họ. Sự vâng lời nhằm ám chỉ đến ý chỉ của Thiên Chúa trong mọi hoạt động của đời sống thường nhật, và trung thành với linh hướng, lời cầu nguyện và hiến pháp cũng như những giảng dạy của Giáo Hội.
(H): Thế tục hay tính thế tục có nghĩa là gì?
(T): Những học viện thế tục thì mang tính thế tục, và các thành viên thường sống một mình trong một căn hộ chẳng hạn; còn những thành viên khác có thể sống gần hoặc rải rác khắp quốc gia. Dẫu rằng những thành viên thánh hiến thế tục thực hiện những cam kết của Tin Mừng, nhưng họ cũng vẫn là những người giáo dân mà thôi.
(H): Làm thế nào mà các thành viên của các học viện thế tục / tu hội đời, sống rãi rác, lại có thể giao tiếp được với nhau?
(T): Họ gặp những thành viên khác ở cấp địa phương, cấp vùng hay cấp quốc gia, thường là vào những ngày để suy niệm và tĩnh tâm; và họ cũng còn gặp nhau ở cấp xã hội qua những cuộc hội thảo mang tính quốc gia. Đó là cách mà họ vẫn giữ mối quan hệ và liên lạc mật thiết giữa các thành viên với nhau trong cùng một học viện thế tục.
(H): Tại sao có một số thành viên của các tu hội đời cố lẫn tránh hay nặc danh?
(T): Một số thành viên giáo dân không muốn đề cập đến việc thánh hiến, tận hiến của mình với những người khác vì họ không muốn bị “cho ra rìa”. Tuy nhiên, các thành viên đó vẫn được chính thức công nhận trong Giáo Hội.
(H): Khi nào mà những học viện thế tục / tu hội đời trong Giáo Hội được công nhận?
(T): Mặc dầu vào những năm đầu của thập niên 1900 đã có những nhóm người sống theo kiểu học viện thế tục, nhưng mãi cho đến năm 1947 khi Đức Cố Giáo Hoàng Piô XII ban hành một Văn Kiện về Pháp Lệnh Tông Đồ (Apostolic Constitution) có tên là Provida Mater Ecclesia, thì khi đó những nhóm sống theo kiểu sống của học viện thế tục được chính thức thành lập ra.
(H): Đâu là những hiện trạng về đời sống tu trì trong Giáo Hội Công Giáo?
(T): Giáo Hội bao gồm rất nhiều loại người khác nhau, và mỗi một người đều có một chổ đứng đặc biệt trong chương trình của Thiên Chúa. Phần lớn được mời gọi vào đời sống hôn nhân, gia đình, cam kết cuộc sống mình với người bạn đời. Một số thì được mời gọi như là những người linh mục, để phục vụ và cử hành các phép bí tích. Thì trong số những người được thụ phong này là các Đức Giám Mục, các linh mục và các thầy sáu. Một kiểu sống thứ ba là đời sống thánh hiến, và tu trì. Những người thuộc về loại này gồm có các nữ tu dòng, các thầy dòng và các linh mục dòng; các thành viên của các tu hội đời / học viện thế tục; các nhà tu khổ hạnh (khổ tu); và những người tận hiến trong trắng. Những người khác thì vẫn còn gọi đó là những người sống tiết hạnh như là những người độc thân nam hay nữ trong Giáo Hội.
B. Công Thức về Lời Khấn Hứa (bằng tiếng Việt)
 
Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi hằng hữu,

tín thác vào tình yêu trung thành của Ngài,

Con, _____________________, xin nhắc lại những lời khấn của con

để sống một cuộc sống đúng như Chúa Kitô đã sống trong

sự trong sạch, khó nghèo, và vâng lời.

Một lần nữa con xin tự cam kết chính bản thân con

để phục vụ Giáo Hội qua sứ vụ

đã được ủy thác cho con

Hãy ban cho con tất cả mọi ơn huệ, Lạy Chúa,

qua sự chuyển cầu của Đức Mẹ

và những lời nguyện cầu và nâng đở của học viện/dòng của con,

để trung thành sống đúung với những lời khấn hứa trên.

Amen.
 

C. Công Thức về Lời Khấn Hứa (bằng tiếng Anh)
 
Vow Formula

Eternal triune God

trusting in your faithful love,

I, _________________________, renew my vows

to live my life following Christ in chastity,

poverty, and obedience.

I commit myself anew

to serve the Church in the ministry

entrusted to my institute.

Grant me the grace, Lord,

through the intercession of Our Lady

and the prayers and support of my institute,

to live these vows faithfully.

Amen.
  
Anthony Lê 
Nguồn: vietcatholic.net

Tình Yêu tận hiến



In
(Suy niệm Ngày Lễ Lá cho Giới Trẻ đang muốn dâng mình cho Chúa)
“Lạy Cha, Con phó linh hồn trong tay Cha”(Lc 23,45).
Lời trần tình của con tim tận hiến.
Người ta độ chừng vào ngày 7/4/30, lúc ấy trời đã về chiều, một buổi chiều êm ả như bao nhiêu ngày khác của mùa xuân Palestine nắng ráo. Nhưng bổng nhiên đất trời không còn bình thường của một ngày sắp tàn nữa, vì tất cả đang lảo đảo quay cuồng, mù mịt. Không ai hiểu nổi lý do của biến cố kinh hoàng lạ lùng nầy. Tận thế?
Thực ra vũ trụ đất trời như biết rõ đó là giây phút tắt thở của Đấng tạo hoá của mình giờ đây đang là một nạn nhân, một tử tội đang hấp hối trên thập tự!
Ngài đã bị hành hạ dã man, đã bị kết án tử hình, bị đóng đinh, tuôn đổ cho hết máu mình và gục đầu trao lại cho Chúa Cha, Thần khí đã giúp Ngài thực hiện chương trình cứu độ.
“Lạy Cha, Con phó linh hồn trong tay Cha”(Lc 23,45). đó là tiếng nói cuối cùng của một con tim bình an tuyệt đối, chết đi cho đời để sống lại vinh quang.
Ngài đang trao lại cho Cha nguồn cơn thống khổ oan khiên và cả lý tưởng cao vời mà suốt đời Ngài theo đuổi. Lý tưởng bi đát của Huyền Nhiệm Tình Yêu đi vào lịch sử.
Ngài ra đi giữa cuộc đời giang dở sự nghiệp! Có ai quyền lực như Ngài? Có ai thắng được mọi sức mạnh như Ngài. Dù là sức mạnh Satan, sức mạnh bệnh tật, sức mạnh thiên nhiên, sức mạnh sự chết…tất cả phải đầu hàng dưới bàn tay Ngài, dưới hơi thở của Ngài, dưới uy quyền của Lời Ngài.
Thế mà hôm nay trong cuộc chiến quyết liệt giữa Ngài và những kẻ thù không đáng bằng những hạt bụi dưới bàn chân Ngài, Ngài lại đành thua cuộc.
Ngài ra đi để lại cho vũ trụ mà Ngài đã tạo dựng và yêu thương một vết thương lớn lao khôn lường. Chính vì vậy mà đất trời đã trở nên mù mịt, lảo đảo như say, như khóc thương, như oán hờn trước cái chết của Hoàng tử vũ trụ do bàn tay độc ác con người gây nên.
Ngài chết! Hoàng tử vũ trụ, Hoàng tử Hoà Bình không còn nữa! Vì đâu có nông nỗi nầy? Thưa đó là do lòng yêu thương tận hiến của Chúa Kitô.
Người con yêu dấu của Chúa Cha toàn năng, giờ đây trở thành Người chiến bại. Người con ưu việt tuyệt đối của mặt đất đã trở thành một tội nhân vô tội của đồi Calvê.
Cái gì ghê tởm nhất của con người thì đang diễn ra ở đây. Nhưng lòng yêu thương tận hiến lớn lao vĩ đại của Thiên Chúa cũng đang toả sáng rạng ngời trên thập tự Golgotha nầy.
Ngài để cho con người đánh tay đôi với mình và chấp nhận để cho bảo lực thắng tình thương.
Thật kỳ diệu tình yêu tận hiến Chúa Kitô. Tận hiến trong tình thần khiêm tốn tuyệt đối, coi giá trị con người ngang hàng với giá trị của mình. “Tôi cũng cao cả như Thiên Chúa, và Thiên Chúa cũng hèn hạ như tôi”, đó là câu nói bất hủ của một thi sĩ Đức vào thế kỷ 16.
Dù là Đấng tuyệt đối vô song, Ngài cũng chấp nhận thua những âm mưu hèn nhát nhất của con người. Dù vô tội hoàn toàn, Ngài đành chịu tội vời bọn bất lương và đã ôm mối nhục nhằn đi vào mồ đá.
Thật kỳ diệu, tình yêu tận hiến Chúa Kitô đi đến chỗ yếu đuối nhất. Đấng quyền lực khôn lường đã khoanh tay chào đón tử thần, đã đầu hàng mấy mũi đinh nhọn, đã nức nở dưới ánh mắt mẹ hiền, đã bất lực bên lòng thương của môn đệ, đã gục đầu xuống trao phó linh hồn!
Tất cả sự kỳ diệu của hai tiếng Tận Hiến của đức kitô đã gói ghém lại trong lời nguyền đã được tiên báo: “Nầy đây con đến để thực thi ý Cha”(Dt 10,9).
Trên mặt đất nầy thiếu chi người đã chết, thiếu chi người từ ngai vàng đổ xuống âm ty, thiếu chi người bị kết án oan ức, bị đóng đinh nhục nhã. Người ta nói đó là định mệnh liềm hái tự thần quét mạng người như quét lá tre.
Nhưng Đấng chịu đóng đinh hôm nay lại hoàn toàn tự hiến vì Tình Yêu, Tình yêu điên dại, tình yêu mạnh hơn sự chết, và coi cái chết nhẹ như lông hồng trước gió. Ngài chết trong trái tim thanh bình khoan dung tha thứ, tha thiết đổ cho hết mọi giọt máu trong tim để biến thành giòng sông thương bất tận. Ngài coi sự nhục nhã như bài ca của tình yêu vạn thuở và lấy đau khổ thập giá làm của lễ xoá tội cho muôn người.
Tình yêu tận hiến của Chúa Kitô đã thể hiện ý định muôn đời của lòng Chúa Cha xót thương nhân loại. Một nhân loại bị mất niềm tin, bị tù đày nô lệ trong tay Satan. Một nhân laọi cần được giải thoát để tìm lại nguồn gốc cao quang của mình.
Thế rồi từ đó Tận Hiến của Chúa Kitô đã biến Ngài thành “hạt lúa mì gieo xuống đất, mục nát đi sinh nhiều bông hạt khác”, thành mùa màng ân sủng, mùa màng sự sống mới, thành Trời mơi, Đất mới.
Tận hiến của Ngài từ hơn 2000 năm qua đã khơi nguồn cho một dòng thác người trẻ sẵn sàng dâng hiến con tim mình cho Lẽ sống của Thập giá. Người người lớp lớp tuôn ra pháp trường đổ máu đào không tiếc, hy sinh mạng sống không sờn. Người người lớp lớp đã coi thường vinh hoa thế tục ở đời, để sống cho tình yêu siêu tình, để đạt cho được những giá trị của khó nghèo, hiền lành trinh khiết, bác ái, hoà bình.
Tận hiến của đức kitô làm phát sinh những chứng nhân kỳ diệu, một Phaolô từng là một kẻ thù của thập giá lại trở thành người sẵn sàng rao giảng và chết sống vì Đức kitô bị đóng đinh trên thập giá.
Một Phanxicô Assisi giàu sang phú quí đã coi của cải, sắc đẹp, danh vọng như rơm rác bỏ lại cho ai, còn chính mình tự nguyện làm người hành khất Nước Trời.
Một Maximilianô Kolbê coi cái chết tự nguyện như viên ngọc trai quí giá giữa chốn tù đày cần đạt lấy để làm giá chuộc giải thoát cho một bạn tù cần phải sống…
Kỳ diệu nối tiếp muôn vàn kỳ diệu của tình yêu tận hiến, Kinh Cầu các Thánh của Giáo hội là một trang sử thiêng oai hùng bất tận, vẫn còn chờ đợi bao tuổi trẻ tiếp tục điền tên mình vào chỗ trống.
Tình yêu của Chúa Kitô chính là “Đường, là sự thật và là sự sống”, cho mọi con người của mọi thế hệ.
(Giáo Phận Phan Thiết – Việt Nam)
+GM Phaolô Nguyễn Thanh Hoan
Nguồn: vietcatholic.net

Thế nào là “nhận thức rõ” về "ơn kêu gọi" của mình?



In
Làm thế nào để có thể hiểu về khái niệm “sự nhận thức rõ” (discernment) hay "phân biệt rõ". Xét về mặt chữ, “sự nhận thức rõ” có nghĩa là “tách rời ra” để chúng ta có thể phân biệt một điều gì đó đã lĩnh hội được một cách rõ ràng hơn.
Đó chính là cách mà chúng ta nhận ra ý chỉ của Thiên Chúa trong bối cảnh mà chúng ta đang sống. Hầu hết chúng ta biết được ý chỉ của Thiên Chúa bởi vì nó đã được mạc khải ra cho chúng ta thông qua những giảng dạy và cuộc sống của Chúa Kitô ở trần gian. Tuy nhiên, cũng có nhiều lúc khi ý chỉ của Thiên Chúa không rõ ràng cho lắm, và chúng ta nhận thức rằng chúng ta cần phải kiếm tìm để biết Thiên Chúa đang yêu cầu chúng ta về điều gì.

Sự nhận thức rõ” chính là một nghệ thuật, và được học hỏi bằng chính hành động, chứ không phải chỉ có đọc biết về nó mà thôi. Đó chính là chức năng thuộc về mối quan hệ của từng cá nhân với chính Thiên Chúa. Khi chúng ta mong muốn làm theo ý chỉ của Thiên Chúa, thì đó cũng có nghĩa là chúng ta đang sẳn sàng, chúng ta đang cởi mở cho chính Thiên Chúa, và muốn có một sự hiểu biết sâu sắc về Ngài, thì khi đó “sự nhận thức rõ” mới có thể trở thành hiện thực được.

Chính vì thế, việc cầu nguyện là một phần rất quan trọng trong tiến trình “nhận thức rõ” (discernment). Để thực sự trở thành một người có nhận thức rõ (discerning person), chúng ta cần phải khiêm tốn, bác ái và can đảm. Khi chúng ta trở nên quen thuộc hơn với Thiên Chúa qua lời cầu nguyện, sẽ đến và có lúc chúng ta hiểu và biết được rằng “có một tiếng nói thầm lặng nho nhỏ” (small still voice) đang nói với chúng ta trong trạng thái yên bình, tĩnh lặng, và sa mạc của tâm hồn, chứ không phải trong sự náo động, rối loạn (turmoil), hay sự lo lắng (anxiety) hoặc sự bồn chồn, không ngơi nghỉ (restlessness).

Một vài đề nghị thực tế giúp một người thanh niên trẻ tuổi biết “nhận thức rõ” về lời gọi mời vào chức vị linh mục đó là:

Dự Thánh Lễ Hằng Ngày (Daily Mass) – Người đang ý thức được ơn gọi của mình vào thiên chức linh mục nên tham dự Thánh Lễ mỗi ngày để mình có thể trưởng thành hơn nữa trong mối quan hệ với Thiên Chúa.

Bí Tích Hòa Giải (Sacrament of Penance) – Việc tham dự vào Bí Tích Hòa Giải chính là cách mà người thanh niên muốn sống một cuộc sống thánh thiện, thông qua việc xưng tội thường xuyên và bằng chính ơn huệ của Thiên Chúa.

Chầu Mình Thánh Chúa (Adoration of the Blessed Sacrament) – Đây là cách tốt và hiệu năng nhất để trưởng thành lên trong tình yêu của Chúa Thánh Thể, cũng như là cách để phát triển thêm về đời sống tâm linh.

Cầu Nguyện Mỗi Ngày (Daily Prayer) – Đây chính là lúc để dành riêng cho mỗi mình Thiên Chúa mà thôi, thường là tại một nơi yên tĩnh, vắng vẽ, hay một khoảnh khắc sa mạc nào đó, vào một khoảng thời gian cụ thể nào đó trong ngày. Thì giờ cầu nguyện này gồm có việc trò chuyện thân mật cá nhân cùng với Thiên Chúa, đọc và suy gẫm Thánh Kinh. Nên phát triển và duy trì thói quen cầu nguyện này hằng ngày, vì điều đó sẽ giúp cho người thanh niên trẻ tuổi có thể lắng nghe một cách rõ ràng hơn về lời mời gọi của Thiên Chúa.

Định Hướng Tâm Linh (Spiritual Direction) – Hãy nói chuyện với vị linh mục hay một cá nhân đạo đức, thánh thiện nào đó, hay Cha linh hướng về đời sống cầu nguyện của riêng mình, và năng tìm lời khuyên từ người này, thì đó, cũng là cách giúp người thanh niên trẻ tuổi biết “nhận thức rõ” về ơn gọi vào chức linh mục của mình.

Các Chương Trình Về Sự Nhận Thức (Discernment Programs) – Nên tham dự buổi tĩnh tâm cuối tuần tại một chủng viện nào đó, những buổi thảo luận về ơn gọi, hay tham dự vào một nhóm thảo luận của những người thanh niên trẻ khác hòng cùng giúp nhau hiểu rõ hơn về lời gọi mời của Thiên Chúa vào thiên chức linh mục.

Sùng Kính Đức Mẹ (Devotion to the Blessed Mother) – Bằng việc lần chuổi Mân Côi mỗi ngày và nhờ sự chuyển cầu mạnh mẽ của Mẹ, là điều kiện tối cần trong quá trình “nhận thức rõ” về ơn gọi linh mục.

Tham Dự Vào Hoạt Động của Giáo Xứ (Get Involved) – để phục vụ Giáo Hội. Lấy ví dụ như: viếng thăm người nghèo hay những người sa cơ bước lỡ; dạy các lớp Giáo Lý; thuyết giảng trong Thánh Lễ (lecturing at Mass); trao Mình Thánh Chúa cho các bệnh nhân; hoạt động cùng với nhóm giới trẻ của giáo xứ, vân vân, thì đó là những phương cách để có thể hiểu thêm về “sứ vụ” (ministry), hay làm tăng thêm lòng khát khao trong việc phục vụ Giáo Hội.

Nói Chuyện Với Cha Phụ Trách về Ơn Gọi (Talk to a Vocation Director) – Hòng nhận được thêm thông tin về chủng viện và về đời sống linh mục. Cha Giám Đốc Ơn Gọi cũng có thể giúp thông qua những cuộc họp thường xuyên nhằm giúp người trẻ “nhận thức rõ” được về ý nghĩa đích thực của ơn gọi linh mục.

Dịch theo Nguồn Tài Liệu D (Resource D) của Văn Phòng Đặc Trách Ơn Gọi và Đời Sống Linh Mục của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ.
Anthony Lê

Nguồn: vietcatholic.net

Đời sống nội tâm trong cuộc đời tận hiến



In
1. Đời sống nội tâm: những cuộc chuyển mình
Nói đến đời sống nội tâm trong việc phục vụ tông đồ là nói đến cái tinh thần, cái hồn của người tông đồ.
Trong môi trường tông đồ truyền giáo hiện đại, đã phải có nhiều cuộc chuyển mình người ta mới nhận ra được tầm mức quan trọng của đời sống nội tâm. Thực ra, các thánh và các nhà đại truyền giáo vẫn đặt nặng đời sống nội tâm, nhưng trong thời đại mới, nói đến nội tâm, người ta cứ cho như truyện hoang đường vậy. Trong những thập niên '60 - '70, người ta để ý rất nhiều đến phương pháp và dụng cụ trong công việc truyền giáo. Người ta vò đầu, vuốt trán làm ra bao nhiêu là dự án, đẻ ra bao nhiêu phương pháp, nhưng rồi đâu cũng hoàn đó. Biết bao nhiêu phong trào, nhà dòng đã bỏ ra cơ man sức lực trí tuệ và thời giờ loay hoay soạn thảo chương trình, phương pháp. Chương trình có thể hay, phương pháp có lẽ rất mới mẻ, phương tiện dồi dào hơn, nhưng hai người tông đồ hục hặc với nhau, anh đi đàng anh, tôi đi đàng tôi, người này nghi kỵ người kia, nên chi, chương trình phương pháp xếp đó để năm sau lại kéo ra bàn lại.
Thấy phương pháp, dụng cụ chẳng đưa đến đâu, bước sang thập niên '80, người ta chuyển hướng và để tâm đến nhân sự. Tuy đã chuyển mình từ sự vật sang con người, nhưng xem ra chỉ xoay có một nửa vòng, vì trong thập niên này, trọng tâm người ta đặt nặng trên kiến thức thần học và khả năng chuyên môn của các nhà thừa sai truyền giáo. Các dòng đua nhau gửi người đi học trăm ngành chuyên môn và các cuộc học hỏi thì xoay vần chung quanh các vấn đề mục vụ. Nhưng vấn đề đẻ thêm vấn đề, chưa giải quyết xong một vấn đề thì đã thấy ló dạng một vấn đề mới và đầu óc cứ luẩn quẩn chung các vấn đề.
Vào cuối thập niên '80 sang đầu thập niên '90, lại có một cuộc chuyển mình thứ hai: người ta chuyển hướng, từ khả năng chuyên môn, người ta để ý hơn tới cái hồn của nhà thừa sai truyền giáo. Cái quan trọng tối hậu trong việc phục vụ tông đồ là cái hồn của người tông đồ và lấy đó, không như yếu tố duy nhất, nhưng như điểm nồng cốt và điểm tựa để chiếu sáng tất cả các khía cạnh khác, chẳng hạn như phương tiện, khả năng chuyên môn, phương pháp... Cuộc chuyển mình này có lẽ có thể được diễn tả qua lời phát biểu của cha Fernando Sooãi, vị thừa sai người Ý, dòng PIME, mới qua đời cách đây ít năm, sau 50 năm phục vụ truyền giáo bên Bangladesh như sau:
"Ngày nay người ta nói nhiều về các phương pháp mục vụ, và người ta tổ chức nhiều cuộc học hỏi. Các việc đó cũng là điều tốt. Nhưng phần tôi thì tôi không tin vào các phương pháp, nhưng vào tinh thần hướng dẫn các phương pháp. Bên Bengala, tôi đã thử tất cả: tôi huấn luyện các giáo lý viên, tôi đi thăm các cứ điểm truyền giáo trong nhiều tháng, tôi đánh guitar và gảy đàn mandoline, tôi tổ chức các hợp tác xã và ngân hàng tín dụng nông nghiệp, tôi dạy giáo lý cho từng cá nhân và cho các nhóm, tôi tổ chức làm kịch với ý nghĩa tôn giáo. Nói tóm lại, tôi đã thử tất cả các điều mới mẻ. Tuy nhiên, nếu muốn thành thực, tôi phải nói là tôi cảm thấy là nhà truyền giáo thực sự, và có được các ơn trở lại và được dân chúng tín nhiệm, khi tôi cầu nguyện nhiều hơn. Chú trọng đến các phương pháp, cách thức mục vụ, đến thần học là điều hợp lý. Tuy nhiên, một điều không bao giờ được quên, đó là việc tông đồ không phải của chúng ta, nhưng Thánh Thần Chúa. Chỉ có Chúa Giêsu mới là Đấng cứu chuộc và giải thoát con người. Dân chúng, cả những người nghèo nhất, không cần chúng ta, sự trợ giúp và công việc của chúng ta, nhưng họ cần Chúa Giêsu... Cần phải suy niệm những điều này nhiều giờ trong kinh nguyện, nghiền gẫm đến độ có thể gặp được Chúa Giêsu trong tâm hồn và thấy vui sướng được gặp gỡ Ngài và sống say sưa hạnh phúc với Ngài" (P. Gheddo, PIME una proposta per la missione, EMI, Bologna 1989, trg. 131).
2. Đời sống nội tâm: nền tảng của công việc phục vụ tông đồ tận hiến
Nói về Đời Sống Nội Tâm trong cuộc đời phục vụ tận hiến là nói đến cái tâm, cái hồn của người tông đồ và để cắt nghĩa tính cách nền tảng của đời sống nội tâm, có lẽ không hình ảnh nào nói lên vấn đề cách rõ ràng cho bằng dụ ngôn Chúa nói trong sách Tin Mừng thánh Matthêu (7,21-23):

Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: "Lạy Chúa! lạy Chúa!" là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi. Trong ngày ấy, nhiều người sẽ thưa với Thầy rằng: "Lạy Chúa, lạy Chúa, nào chúng tôi đã chẳng từng nhân danh Chúa mà nói tiên tri, nhân danh Chúa mà trừ quỷ, nhân danh Chúa mà làm nhiều phép lạ đó sao?" Và bấy giờ Thầy sẽ tuyên bố với họ: Ta không hề biết các ngươi; xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác!”
Áp dụng vào hoàn cảnh hiện nay, có lẽ chúng ta có thể diễn tả lại đoạn Sách Thánh như sau: "Trong ngày ấy, nhiều người sẽ nói với Ta rằng: 'Lạy Chúa, Chúa không nhớ sao, con đã xây mấy nhà thờ rộng lớn, tháp cao chọc trời, mà lại còn cố gắng hội nhập văn hóa, làm theo kiểu á đông, để làm sáng danh Chúa'; người khác thì nói: 'Lạy Chúa, con đã xây mấy viện tế bần, con đã hô hào lạc quyên giúp đỡ người nghèo, con đã đi thăm tận nhà những ông già bà lão cô đơn, con còn can đảm nói lên bênh vực người bị áp bức, người bị đối xử bất công'; người kkác thì nói: 'Lạy Chúa, con đã dạy bao nhiêu trẻ biết đọc biết viết, con còn dạy chúng đọc kinh và xưng tội rước lễ, con đã tổ chức các hội đoàn hát khản cổ tôn vinh Chúa; có khi con còn chịu đựng hy sinh, nhịn ăn nhịn uống đi giảng và giảng hùng hồn làm cho đàn bà con nít khóc như rươi'; người khác thì nói: 'Lạy Chúa, con đã hy sinh cặm cụi viết sách, viết báo, viết cả một luận án dài 1000 trang dạy đàng nhân đức, v.v.'
Biết đâu lúc đó Chúa chẳng nói: "Ta chưa hề bao giờ biết người, cút khuất mắt Ta, tên lưu manh gian ác!" Lời trách mắng của Chúa thật dễ sợ nói lên tất cả tính cách trầm trọng của vấn đề. Nhưng có cái lạ là Chúa đi quở trách rất nặng nề những người, nói cho cùng, đã làm những điều thiện, điều tốt có ích cho tha nhân? Tại sao vậy? Lý do là họ đã lấy danh nghĩa Chúa để phục vụ chính mình, đã dùng công việc của Chúa để thực hiện một chương trình nhân loại, một tham vọng cá nhân. Lý do rất đơn giản, nhưng lại là cái cốt tủy của tất cả cuộc đời phục vụ tông đồ tận hiến. Nhiều người có thể cùng làm một công việc, nhưng lý do, mục đích và tinh thần có thể rất khác, có thể còn trái ngược nhau nữa. Công việc giúp đỡ phục vụ, tự bản tính, là một diễn tả của tình yêu, nhưng trong thực tế, lắm khi lại không phải như thế. Có người phục vụ vì tình yêu Chúa thúc đẩy; có người phục vụ vì bản tính tự nhiên thích phục vụ; người khác phục vụ hết mình để cạnh tranh ảnh hưởng; cũng có thể có người phục vụ để trả đũa người khác, v.v. Chính vì vậy mà công việc từ thiện bác ái tự bản tính là công việc tốt và có tính cách xây dựng, nhưng trong thực tế lắm khi không những không xây dựng mà còn gây chia rẽ. Người ta cũng đánh đấm nhau vì công việc bác ái đấy. Nhiều người suốt đời vất vả phục vụ người nghèo đói, bệnh tật mà trong tâm hồn vẫn đầy dẫy kiêu căng, hờn giận, bạo động, áp bức. Công việc phục vụ của họ chẳng xây dựng cho họ, mà cũng chẳng xây dựng những người họ phục vụ.
Vũ Như Hiên trong cuốn "Đêm giữa ban ngày" có thuật lại là trong một cuộc hội thảo các nhà văn ở Hà Nội, Nguyễn Tuân khéo léo kể câu truyện ngồ ngộ, lấy tên là "Cái Rắm". Rằng
"Một hôm nhà vua đang ngự triều bỗng đánh rắm, tả quan lắng tai rồi tâu: "Muôn tâu bệ hạ, nghe như tiếng đàn, tiếng sáo", hữu quan hít hà rồi tâu: "Muôn tâu bệ hạ, ngửi như mùi huệ mùi lan". Nhà vua nghe tâu sướng tai lắm, nhưng rồi đâm lo: "Phàm thiên hạ đánh rắm thời phải thối, nay trẫm đánh rắm lại không thế, e trẫm băng hà đến nơi". Tả hữu mặt chảy dài. May sao giữa lúc đó nhà vua lại phun ra phát rắm thứ hai. Tả quan liền vươn cổ ra tâu: "Muôn tâu bệ hạ thối ạ!" Hữu quan cũng không kém: "Muôn tâu bệ hạ, không những thối mà còn thối lắm ạ!" (Vũ Như Hiên, Đêm Giữa Ban Ngày. Hồi ký chính trị của một người không làm chính trị, Văn Nghệ, California, 1977, pp. 428-429).
Nguyễn Tuân kể câu truyện này để chửi xéo những cây bút nịnh bợ, viết để lấy lòng quyền lực, nhưng nó cũng giúp để làm sáng tỏ vấn đề của cái tâm. Nói có thể là hay và làm có khi cũng hay nữa, nhưng nếu lòng mà không hay thì hỏng bét tất cả. Có lẽ đôi lần chúng ta đã ăn lầm trái táo. Chọn một trái táo, bề ngoài xem thật tuyệt vời, nhưng khi bổ ra thì ôi thôi, cái ruột lốm đốm bao nhiêu chấm đen, có chỗ bị ủng và đôi trường hợp khủng khiếp hơn thì còn có giòi nữa. Thì đành bỏ đi chứ ăn sao được! Đó là vấn đề cái tâm, cái hồn của người tông đồ. Nó muôn vàn hệ trọng đối với công việc phục vụ tông đồ. Khi lòng không trong sáng thì lời nói và việc làm không tốt được. Cũng có thể lời hay, việc tốt, nhưng đó sẽ chỉ là cái vỏ, có khác chi trái táo bị ủng ruột nói trên (Mt 7,15-18).
3. Chúa Giêsu: điểm tựa duy nhất
Tình trạng thường hay gặp trong đời sống nội tâm là tình trạng, con tạm dùng một hình ảnh, mối bòng bong. Có nghĩa là tình trạng tâm hồn bị phân hóa, tình trạng một tâm hồn có quá nhiều điểm tựa và mỗi điểm tựa theo một tiêu chuẩn, một quy luật riêng. Nói cho cùng, trong cuộc đời phục vụ tận hiến, ít khi xảy ra tình trạng một tông đồ loại Chúa ra khỏi cuộc đời và công tác phục vụ của mình, và biến việc tông đồ thành việc tìm kiếm những lợi lộc, danh vọng hay phục vụ một ý thức hệ. Tuy tình trạng đó cũng có thể xảy ra, nhưng ít. Bình thường, vấn đề là đặt Chúa Giêsu ngang hàng hơn kém giữa biết bao giá trị. Cuộc đời được hướng dẫn hay bị chi phối bởi nhiều hấp lực, mỗi lúc một hấp lực khác nhau. Những quyết định, lời nói và hành động sẽ tùy thuộc vào hấp lực mạnh nhất trong lúc đó. Chính vì vậy, cuộc đời và công việc tông đồ trở nên hàm hồ và mâu thuẫn và trong tình trạng này người tông đồ thường dễ bị mệt mỏi, chán nản trước những khó khăn và dễ bị lạc hướng, có khác chi một chiếc xe, cùng một lúc bị nhiều con ngựa lôi kéo, mỗi con theo một hướng khác nhau. Kết quả là cỗ xe cứ nhùng nhằng, không tiến, cũng không lùi được và nếu nhiều con ngựa mạnh cùng kéo, cỗ xe có thể bị phá tan ra từng mảnh. Muốn cho cỗ xe chạy ngon trớn, phải làm sao tháo dây các con ngựa bất kham, hướng tất cả các con ngựa khác về một mối để chỉ có một con ngựa đầu đàn hướng dẫn thôi. Đây chính là khía cạnh thứ nhất đòi nhiều cố gắng trong đời sống nội tâm của người tông đồ tận hiến: quy tụ tất cả cuộc sống về Chúa Giêsu và hướng dẫn tất cả hoạt động dưới ánh sáng của Chúa Giêsu. Tiến trình của đời sống nội tâm ở đây có thể được diễn tả bằng hai đồ hình dưới đây:
4. Sống trong mối tình thâm với Chúa Giêsu
Quy tụ được tất cả cuộc sống về Chúa đã là điều tốt, nhưng như vậy vẫn chưa đủ; còn cần phải móc nối được mối dây liên lạc cá nhân thân tình với Chúa Giêsu nữa mới được, vì nội tâm là chỗ tinh túy nhất của con người, là chỗ thể hiện sâu sa nhất của căn tính một người. Đàng khác, nếu không có được mối dây thân tình mật thiết với Chúa thì cũng chẳng quy tụ tất cả cuộc sống về Chúa được.
Ngày nay, người ta bàn cãi nhiều về căn tính người tông đồ; các ý kiến thì nhiều và có khi trái ngược nhau, nhưng nếu muốn đi đến tận ngọn nguồn thì người tông đồ, khi muốn tận hiến cuộc đời cho Chúa, phục vụ Giáo Hội, phục vụ tha nhân, lý do chính yếu không phải là để làm tốt làm đẹp cho thế giới, hay để thực hiện một chương trình, dự án cho Giáo Hội, cho dù có cao đẹp đến mấy đi nữa, nhưng vì đã được tình yêu Chúa Giêsu chinh phục. Như các môn đệ đầu tiên, khi được Chúa gọi, liền bỏ tất cả (thuyền, chài lưới, cha mẹ...) để theo Chúa, cũng thế, người tông đồ hôm nay, khi được Chúa chinh phục, cũng quyết định dâng hiến tất cả cuộc sống cho Chúa, quy tụ tất cả con người, tài năng, sức lực về Chúa và để cho Chúa sai khiến, hướng dẫn. Đây chính là nền tảng cùng cực của đời sống nội tâm và cũng là sức mạnh và sự dũng cảm của cuộc đời tông đồ tận hiến. Cái nội tâm đã được Chúa Giêsu chinh phục thực sự có lẽ không ai nói lên được cách hùng hồn bằng thánh Phaolô:
"Những gì xưa kia tôi cho là lợi lộc, thì nay, vì Đức Ki-tô, tôi cho là thiệt thòi. Nói thành thực, tất cả tôi đều coi là thiệt thòi, so với sự tuyệt vời, là được biết Đức Ki-tô Giê-su, Chúa của tôi. Vì Người, tôi đã bỏ hết, và tôi coi tất cả như rác rưởi, để được Đức Ki-tô và được kết hợp với Người." (Phil 3,7-9)
"Trong khi người Do-thái đòi hỏi những dấu lạ và người Hy-lạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan, chúng tôi rao giảng Đấng Ki-tô chịu đóng đinh, điều mà người Do-thái coi là ô nhục, và dân ngoại cho là điên rồ. Nhưng đối với những ai được Thiên Chúa kêu gọi, dù là Do-thái hay Hy-lạp, chúng tôi tuyên xưng Đức Ki-tô, sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa." (1 Cor 1,22-24)
Được Chúa Giêsu chinh phục và sống thân tình với Ngài là nguồn sức mạnh của cuộc đời tông đồ tận hiến, làm cho người tông đồ sống hăng say và trở nên quả cảm, biết biến các khó khăn thành cơ hội mới để loan báo Tin Mừng, làm cho nhiều người hơn có thể biết và yêu mến Chúa Giêsu. Nhưng đã là tông đồ, ai lại không biết Chúa Giêsu? Vậy, cái khác biệt nằm ở đâu? Sự khác biệt căn bản ở đây nằm tại chỗ biết Chúa theo lý thuyết trừu tượng và biết Chúa trong mối dây liên lạc thân tình. Biết Chúa rồi việc mình, mình làm, Chúa không có ăn nhằm chi hết, còn biết Chúa rồi thì coi mọi sự như phân bớn và chỉ muốn cho người khác biết Chúa thì có khác thiệt.
Người ta kể có lần kia, một gia đình giầu có tổ chức ăn tiệc. Có mặt, ngoài những trai tài gái sắc, còn có một tài tử diễn kịch tài giỏi và một linh mục đã có tuổi. Giữa bữa tiệc, có người đề nghị tài tử diễn kịch trổ tài. Vì là tài tử đại tài nên không sợ hãi nên hỏi những người có mặt: "Qúi vị có muốn điều chi đặc biệt không?" Vị linh mục già đề nghị: "Xin anh đọc cho chúng tôi nghe thánh vịnh 'Mục Tử nhân lành'". Sau một giây phút lưỡng lự, anh tài tử đáp: "Được, con sẽ làm theo ý cha, với điều kiện là tiếp theo, cha cũng phải đọc thánh vịnh đó". Linh mục đáp: "Tôi có phải là tài tử diễn kịch đâu? Nhưng nếu anh muốn thế, tôi cũng xin cố gắng". Và anh tai tử kịch nghệ bắt đầu ngâm nga thánh vịnh với tất cả tài năng của mình. Khi anh kết thúc, tất cả cùng vỗ tay ran nhà. Đến lượt vị linh mục, với giọng nho nhỏ run run, ngài bắt đầu ngâm thánh vịnh. Khi ngài ngâm xong, chẳng ai vỗ tay cả, tất cả đều im lặng, nhưng người ta thấy trên mắt nhiều người chảy đôi hàng nước mắt. Sau một hồi im lặng, anh tài tử kịch nghệ đứng lên và nói: "Thưa qúi vị và bạn hữu, tôi đã đánh động đôi mắt và đôi tai của các bạn, còn vị linh mục đây, ngài đã đánh động con tim của các bạn. Lý do vì tôi biết thánh vịnh về mục tử, còn ngài thì biết vị mục tử". Biết các lý thuyết về Chúa và biết Chúa quả có khác.
5. Làm công việc của Chúa
Còn một khía cạnh nữa rất quan trọng trong nội tâm của người tông đồ. Đó là ý thức về bản tính công việc mình làm. Nói đến việc tông đồ là nói đến ra đi và nói đến phục vụ. Nhưng muốn nói đến cùng cực thì người tông đồ không ra đi, nhưng được sai đi để cộng tác làm công việc của Chúa, nên chi người tông đồ ra đi chỉ vì được sai đi. Các văn kiện của Giáo Hội sau Công Đồng Vaticanô luôn nhắc đi nhắc lại điều này. Tông thư "Rao giảng Tin Mừng" (Evangelii Nuntiandi) thì nói là trong sứ mệnh của Giáo Hội, Chúa Thánh Thần đóng vai chính (RGTM 75), còn thông điệp "Sứ Mệnh Đấng Cứu Thế" thì nói: "Chúa Thánh Thần là Đấng chủ động của tất cả sứ vụ của Giáo Hội, đặc biệt trong sứ mệnh truyền giáo" (SMĐCT 21).
Ngày nay người ta hay than thở là công việc tông đồ, nhất là công việc truyền giáo, gặp nhiều khó khăn, nguy hiểm. Cũng đúng thôi, nhưng nói cho cùng, khối người gặp khó khăn nguy hiểm trong công việc của họ. Có một cái khó khăn đặc thù và cũng là cái khó nhất của người tông đồ thì lại ít ai nói, nhưng nó lại là cái khó thực. Đó là người tông đồ phải làm công việc không phải của mình mà của Chúa. Dấn mình làm việc tông đồ là lao mình cộng tác với Chúa Thánh Thần, nên việc hệ trọng là nhìn ra được hướng đi của Chúa và làm công việc Chúa chỉ cho làm. Nhưng làm sao nhìn ra được đường đi của Chúa, khi ý nghĩ của Chúa không phải là ý nghĩ của mình, cách ra như trời với đất (Is 55,8-9; Rom 11,33-36). Đó, cái khó nó nằm ở chỗ đó, nhưng phải nhìn cho ra đường đi của Chúa, bằng không thì sẽ làm công việc riêng tư của mình. Có thể việc làm cũng tốt, nhưng nếu là việc riêng thì không còn phải là cộng tác với Chúa Thánh Thần, mà là tiếm đoạt địa vị của Chúa để làm chủ động.
6. Vậy, phải làm gì?
Nếu đó là những điều nội tâm căn bản trong cuộc đời tông đồ tận hiến thì cụ thể phải làm chi để đáp ứng lại những đòi hỏi đó? Cuộc hành trình thiêng liêng có thể diễn tả qua mấy chặng đường sau đây:
a) Lắng nghe tiếng lòng để nhận ra và theo con đường của Chúa
Trong cuộc đời phục vụ tận hiến, có nhiều mối bận tâm, lo lắng, nhưng mối bận tâm đầu tiên luôn thúc bách tâm hồn người tông đồ chắc phải là mối bận tâm tìm kiếm để chân nhận ý Thiên Chúa và lần theo con đường của Ngài. Đó là thái độ của nhà chiêm niệm thần bí, người nhậy cảm và tuyêt đối vâng theo các tác động của Chúa Thánh Thần trong nội tâm và để cho tiếng nội tâm hướng dẫn mọi hành động và tất cả cuộc sống. Sống triền miên trong thái độ lắng nghe để tìm kiếm và lần mò theo tiếng nội tâm. Chính vì vậy mà các nhà tu đức thường gọi đời sống chiêm niệm thần bí là đời sống thụ động, nhưng lại linh động tích cực hơn đời sống tích cực.
Đời sống tích cực là mẫu sống khi người tông đồ băn khoăn lập chương trình hoạt động, tính toán dựa theo tiêu chuẩn loài người. Đời sống thụ động bắt đầu khi người tông đồ biết lắng nghe tiếng Chúa Thánh Thần nói trong nội tâm và để cho tiếng nội tâm hướng dẫn. Vì vậy, người tông đồ nhiều khi đi những nơi không muốn, làm những điều không thích và do đó, trở nên rất linh động tích cực và can trường. Cuộc đời của các tiên tri, các thánh Tông Đồ, các nhà đại truyền giáo là như vậy. Và đó là ý nghĩa lời Chúa nói với thánh Phêrô trong sách Tin Mừng thánh Gioan: "Khi ngươi còn trẻ, ngươi tự mặc áo lấy và ngươi đi nơi ngươi muốn. Nhưng khi đã về già thì ngươi giang tay để người khác choàng áo cho và dẫn ngươi đi nơi ngươi không muốn" (Gio 21,18). Già trẻ đây không tính về tuổi tác, nhưng về sự trưởng thành trong đời sống thiêng liêng, và người khác ở đây không ai khác hơn là Chúa Thánh Thần. Chính vì vậy mà người tông đồ trở nên can đảm và tích cực hơn trước, vì không dựa theo sự khôn ngoan của loài người, nhưng dựa trên sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa.
Nhưng không phải tất cả mọi tiếng nội tâm đều là tiếng Chúa Thánh Thần. Cũng có tiếng của tư lợi, tiếng của danh vọng, tiếng của ảo tưởng, và cả tiếng của thần dữ tìm cách đánh lừa người tông đồ để lái đi theo đường khác. Vì vậy, sống theo tiếng Chúa Thánh Thần đòi hỏi một cuộc hành trình thiêng liêng có thể tóm lại trong ba nấc chính yếu:
i. Tự do nội tâm: đời sống tông đồ truyền giáo đòi hỏi, trước nhất, cuộc hành trình thanh luyện để có được sự tự do nội tâm. Nếu không có tự do nội tâm, người tông đồ sẽ không nghe thấy Tiếng Huyền Nhiệm, mà chỉ nghe thấy lộn xộn muôn tiếng ồn ào chen lấn. Cần phải thanh luyện cho lòng mình được tự do thanh thản trước tất cả thụ tạo. Chúa Giêsu còn nói là phải từ bỏ chính bản thân và sự sống riêng mình. Nếu người tông đồ không biết từ bỏ tất cả, coi chúng tất cả là tương đối thì chúng sẽ trở thành ngẫu tượng trong lòng và lúc đó, người tông đồ chỉ nghe thấy tiếng các ngẫu tượng chứ không nghe thấy tiếng Chúa. Trái lại, nếu người tông đồ biết từ bỏ tất, thì không mất mát gì, mà lại tìm được tất cả một cách trung thực. Chúng sẽ trở lại trúng vị trí của chúng trong con tim của người tông đồ. Đó là ý nghĩa lời Chúa trong sách Tin Mừng thánh Matêo: "Ai yêu cha, yêu mẹ hơn Thầy, không đáng thuộc về Thầy... Ai muốn bảo vệ mạng sống mình thì sẽ mất sống; còn ai thí mạng sống mình vì Thầy và vì Tin Mừng, thì lại được sống" (Mt 10,37-39). Nói cho cùng thì vấn đề không phải do các thực tại gây lên, nhưng tại con tim của người tông đồ làm chúng thành méo mó. Không phải là các thực tại xấu, nhưng vì con tim của con người sa đọa.
Chính vì vậy mà đời sống thiêng liêng tông đồ thường được ví von như cuộc hành trình vào sa mạc. Khách lữ hành muốn băng qua sa mạc phải lên đường với ít hành trang. Nhưng rồi trong cuộc hành trình sẽ thấy là số ít hành trang mang theo vẫn còn qúa nặng, quá cồng kềnh và cản trở cho cuộc hành trình. Vì vậy, từ từ phải vất bỏ tất cả những gì không tối cần thiết, và sau cùng phải vất tất cả, chỉ giữ lại một vật duy nhất. Đó là nước. Đi trong sa mạc, điều cần thiết duy nhất là nước. Có thể thiếu tất cả, nhưng nếu thiếu nước thì sẽ chết khô trong sa mạc.
ii. Thực với lòng mình: tất cả mọi hoạt động của cuộc đời tông đồ chỉ nhắm có một mục đích duy nhất: đem Chúa đến cho người khác để xây đắp cuộc đời của họ; phục vụ Chúa và làm vinh danh Chúa, hay nói theo khẩu hiệu của thánh Ignacio "ad majorem Dei gloriam". Nhưng lắm khi nói là vì Chúa, tình thực là vì những lý do khác. Vì vậy, cần phải thực với lòng mình. Dám nhìn thẳng mặt các động cơ thúc đẩy làm căn nguyên cho các lựa chọn và hành động. Trong kinh nghiệm phục vụ tông đồ, có khi một người lao mình làm việc trối chết, xem ra xả thân phục vụ rất quảng đại; nhưng lắn khi lý do chính yếu lại là cạnh tranh, sợ mất ảnh hưởng, hay vì hư danh hoặc một lợi lộc nào đó. Vì vậy, cần phải trở về nội tâm để dò hỏi lòng mình và gọi mỗi căn nguyên với chính tên của nó. Đó, nhà chiêm niệm thần bí vâng theo tác động của Chúa Thánh Thần là vậy đó. Không phải là người có nhiều kinh nghiệm xuất thần ngây ngất, nhưng thiết yếu phải là người có can đảm nhìn nội tâm để không dối lòng mình.
iii. Chết cho chính bản thân. Chính vì có can đảm nhìn thẳng sự thật để khỏi tự dối mình mà nhà chiêm niệm thần bí trong hành động dần dần tiến từ đời sống tông đồ trong đó mình là trung tâm điểm để bước sang đời tông đồ trong đó Chúa Giêsu là trung tâm điểm. Trong chiều hướng đó, đời tông đồ truyền giáo là một cuộc chiến đấu liên lỉ và gay go để đưa mình ra ngoài và đưa Chúa Giêsu vào trong, tận trung tâm cuộc sống và mọi hoạt động. Cuộc chiến này đưa đến một cái chết thực sự cho chính bản thân mình. Chỉ khi người tông đồ biết chấp nhận chết cho chính mình mới có thể phục vụ Chúa thực sự. Bằng không thì chỉ là cái vỏ bề ngoài.
b) Tiến bước trên đường say yêu Chúa
Tông đồ là người được Chúa chinh phục nên điểm đặc trưng của tất cả cuộc đời tông đồ tận hiến là tình say mến Chúa Giêsu. Tình yêu say mến Chúa Giêsu tiến triển trên 3 bình diện:
i. Hiện diện: khi người ta thương yêu nhau thì thường nghĩ tưởng đến nhau và hành dưới sức mạnh của sự hiện diện đó. Cũng tương tự thế, người tông đồ say mến Chúa cũng luôn nghĩ tưởng đến Chúa và sự hiện diện của Chúa trở thành nguồn nguồn gợi hứng, là sức mạnh nâng đỡ và là tiêu chuẩn quyết định lựa chọn.
ii. Gặp gỡ đối thoại: gặp nhau trò truyện để khen ngợi, cám ơn, xin lỗi, xin giúp đỡ và nhất là để chia sẻ tâm tư. Nhờ vậy, hai người được biến đổi trong tâm tình, lý tưởng, tiêu chuẩn sống để trở nên giống nhau và khắng khít lấy nhau. Đây là chính là mục đích của các giờ suy ngắm để hiểm thấu đáo mầu nhiệm của Chúa: các tâm tình, ý nghĩ, tâm thức, tiêu chuẩn lựa chọn và hành động. Suy để hiểu, hiểu để thấm nhuần, thấm nhuần để lấy đó làm tiêu chuẩn sống.
iii. Lòng với lòng: sống trong thinh lặng để cảm nghiệm sự hiện diện của nhau, để dâng hiến cho nhau. Trong tiến trình say mến Chúa, đây là những phút giây chiêm niệm trong thinh lặng để quy tụ tất cả con người của mình về Chúa và sống trong sự xác tín đức tin là được Thiên Chúa thương yêu vô điều kiện và để dâng hiến trọn cuộc đời cho Chúa.
Tiến bước trên cuộc hành trình nội tâm như thế, người tông đồ sẽ trở nên như một thửa vườn mầu mỡ có muôn hoa đua nở mời gọi chim chóc tu họp ca hót líu lo ca ngợi Thiên Chúa và vui sướng lòng người.
Đức ông Đinh Đức Đạo 
Nguồn: vietcatholic.net